Q U Y Ê N B O O K – nna

Góc nhỏ của An và bằng hữu

đêm hát karaoke

đêm hát karaoke

Khi Huỳnh Hương “phiêu lưu ký” California, tham dự đại hội 60 năm thành lập trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, nó tưởng bạn bè cùng lớp đi đông. Tôi đón nó ở bến xe đò, hỏi ra “thằng nhạc sĩ ở Houston” không qua để dự đại hội. Chuyện lạ! Thường thường ba vụ này ít khi thấy nó vắng mặt. Huỳnh Hương liên lạc với Hoàng Ruồi bên Austin tiểu bang Texas. Hoàng Ruồi bảo nó coi lại cho chắc. Thằng Dương Nổ, là tôi, ít khi đi dự ba vụ này. Bạn bè cùng lớp, trên lớp, ngang lớp, hình như tôi “thấy” tụi nó trên “internet”, hay trên “yahoo messenger” mặt vàng vàng mỗi tuần. Cần gì gọi nhau, gởi “email” hay réo qua “skype”, qua “viber”. Phần đông bạn bè tôi như “nhạn là đà”, lên đại hội chắc gì gặp tụi nó.
Huỳnh Hương cằn nhằn sao mày không nói trước, để tao đừng bay qua từ Texas. Tôi cự lại: “Tao có nói tao đi đâu. Mày bảo kiếm vé thì tao liên lạc vụ vé!”
Buổi chiều Trung bạn tôi gởi “text message”:
‘Bro., bạn anh qua chưa?”
“Rồi.”
“Giờ có làm gì không? Nói ảnh lên nhậu mỏng mỏng.”
Tôi quay sang Huỳnh Hương hỏi ý. Nó chịu liền. Hai thằng rời Midway City chạy lên Tustin. Mỏng mỏng để mai chơi tiếp mà nhậu đến nửa đêm. Lái xe về không được nên mượn hai cái ghế sa lông. Ngủ! Bảy giờ sáng chạy về tân trang rồi 11:00 giờ chủ nhật chạy ngược lên. Nghĩa là nhậu tiếp trong lúc chờ trận đá banh của giải túc cầu thế giới bắt đầu.
Huỳnh Hương đã trổ tài làm đồ nhậu hôm qua. Trung “trúng tầng số”, kể lại cho Hảo, Minh, và Rinh. Ba thằng này mới đến nhập cuộc lai rai. Trung lại nói: “Hôm nay chủ nhật chơi mỏng mỏng thôi! Đến 5 giờ 30 giải tán để anh này, nó chỉ Huỳnh Hương và tôi, đi dự đại hội 60 năm thành lập trường Trung Học Phan Châu Trinh Đà Nẵng.” Trung nói nhỏ với tôi: “Anh dô mỏng mỏng thôi vì còn phải lái xe.”
Nhưng “mỏng” đâu được khi karaoke mở ra. Chương trình như thường lệ với “Biển Mặn” bắt đầu: “Cao ngất Trường Sơn, ôm ấp tình thương nước ra sông nguồn…” và kết với “Trăng Tàn Trên Hè Phố” sẽ không biết lúc nào. Thường thường là nửa đêm về sáng như đã xảy ra những lần trước khi nhậu ở nhà này.
Đêm hôm qua Huỳnh Hương nằm ở Houston nhưng Trung “lên máy” thức nó dậy nghe thêm Rừng Lá Thấp. Nhìn hình ảnh cũ đường quân hành mà chạnh lòng. Thuỷ Quân Lục Chiến vào vùng, lưng ba lô tay súng đạn, từng bước bắc tiến trên cát ở Quảng Trị. Trung lúc đó chưa là lính mà nhìn cảnh cũ cũng bùi ngùi.

“Tôi qua biên giới truy lùng giặc
Đêm ngủ rừng sâu lạnh gió sương
Những tối âm thầm đom đóm lượn
Nghe niềm tin rực sáng biên cương” [ thơ Kim Tuấn ]

Đôi lúc nghe một bài hát quen lúc đang ngồi ở nhà Trung lai rai, vài kỷ niệm lại vụt về như ánh đom đóm. Tôi nhủ lòng có dịp sẽ nhắc lại, như chuyện Trung sĩ Thuận của Đại Đội 92, ca “rất tới” với Chuyện Tình Mộng Thường. Anh Thuận hát lần cuối ở hậu cứ tiểu đoàn, trước khi đơn vị nhảy vào trận Xuân Lộc Long Khánh. Đến câu “đến lúc biết mơ mộng / như những cô gái xuân nồng / nàng yêu anh quân nhân Biệt Động / trong một ngày cuối xuân” Thuận đổi thành “anh quân nhân Nhảy Dù trong Đại Đội 92” làm dân 92 vỗ tay quá xá. Không vỗ không được vì thính giả là dân Tiểu Đoàn 9, Đại Đội 92 Dù!
Đánh Xuân Lộc không trầy da tróc vảy nhưng về đến Vũng Tàu sau khi nằm chịu trận bên này cầu Cỏ May đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ vài chục thước là đến Bến Đá, trái đại bác 130 ly oan nghiệp cắt Thuận làm hai cùng với Trung sĩ Nhậm. Tôi chạy cùng lần với hai anh, nếu không ham sách vở, dừng lại lượm cuốn Hải Đảo Thần Tiên của Đặng Trần Huân và cuốn Nước Trung hoa và Tôi của một văn hào người Mỹ ai vất bên đường, nhét ba lô, rồi tiếp tục chạy ra Bến Đá theo đại đội là “rửa cẳng lên bàn thờ ké hình ba” rồi. Ầm một tiếng! Bụi bốc đầy. Tôi vừa chạy trờ tới, thấy người anh bị đứt làm hai, rớt bên thân anh Nhậm. Đầu tê cứng. tôi quay sang hỏi Thượng Sĩ Thường Vụ đại đội Hữu, anh nói chạy tiếp ra tàu cá.

Sáng nay lật đật đi gởi tiếp tế cho thằng bạn học đang bị mổ ung thư óc bên nhà, trên đường ghé Liên Huế mua bún bò về cho mẹ, tôi lại gặp một thằng đồng đội cũ. Thằng Thuận. Người mà chị nuôi tôi gọi là Thuận khùng khi còn đi học. Trong thời gian chờ quẹo trái ở Hazard và Euclid, tôi thấy một người Việt đi xe đạp băng ngang đường. Nhìn hơi giống thằng Thuận ở Trung Đội 1 của Thiếu Úy Sơn. Tôi quẹo trái xong, chạy trên Euclid vừa cố ý tìm coi người đi xe đạp tới đâu để đoán đường đi nước bước. Tôi nghĩ nó sẽ đi ngang khúc đường của tiệm Liên Huế nên đậu xe đứng chờ. “Ông thần Đại Đội 92, Trung Đội 1 rồi chứ còn ai!” Tôi gọi “Ê Thuận.” Nó ngừng xe đạp nhìn tôi. “Đúng rồi. Tới 90% là đúng.” Tôi tiếp: “Mày ở Đại Đội 92, Tiểu Đoàn 9 Dù phải không?” Lúc đó nó quác miệng ra như muốn chửi thề: “Đ.m. chứ còn ai đây nữa!”
Mừng quá. Tôi rũ nó vào quán. Ăn chỉ là cái cớ mà nghe chuyện hôm qua từ miệng thằng khinh binh hai, đêm rời Xuân Lộc để di tản bị Trung Sĩ I Thụ đá một cái lọt xuống giao thông hào vì tội đi khinh binh mà đi lộn vào vùng tụi nó mới là chính. Thuận nói anh Thụ trở về với tàu Việt Nam Thương Tín chắc chết rồi. Nó hỏi tôi nhớ Tùng không. Sao không nhớ. Tùng ở cùng trung đội tao, bị khủng hoảng tinh thần sau cú bỏ nước đi Mỹ. Tôi hỏi nó thêm về Phú, Nguyễn Minh Chính và nhiều thằng nữa của trung đội. Trung Sĩ I Hữu, người Bắc ở Vũng Tàu, sau khi gặp được gia đình ở trại tỵ nạn giờ về đâu rồi. Đại ca đọc được lời nhắn “lên máy” cho em út ở trung đội nó tìm. Thằng Trung Hậu còn nhớ buổi nhậu thịt cầy anh khao nó thời Sàigòn.
Huynh trưởng của Huỳnh Hương và tôi viết rất nhiều trong đặc san kỷ niệm 60 Năm Thành Lập Trường Trung Học Phan Châu Trinh. Tôi đọc bài anh Võ Ý, Đi Tìm Nàng Thơ, thấy anh ta gan cùng mình khi mang đồ Sinh Viên Sĩ Quan vào văn phòng giám thị trường Phan Châu Trinh để xin gặp người thân. Người thân hay người thơ Lê Thị Trân Châu. “Nữ sinh Trân Châu e dè bước vào phòng giám thị. Chợt thấy ‘người thân’ là tôi, nàng tức tốc quay lưng bỏ chạy.” [ Đi Tìm Nàng Thơ, Võ Ý ]
Đọc xong tôi gọi anh. Không ai trả lời. Lát sau anh gọi lại. Thằng em dân Phan Châu Trinh chào huynh trưởng. Rồi nhắc đến chị Lê Thị Trân Châu. Anh hỏi bộ tôi biết sao. Đâu có. Anh chị ra trường Phan Châu Trinh lúc đó em còn bên trường Nam Tiểu Học. Nhưng đọc thích cái ngông nên gọi chọc anh.
Đọc đến Tháng Mười Năm 1965 của Phan Lưu Phương nghe anh nhắc về một người bạn nằm vùng. Lớp tụi tôi sau này cũng lòi ra một số như vậy. Có một điều muốn thưa với tác giả khi anh viết về trường hợp người bạn lớp anh bị chết. Bạn anh sẽ không chết như vậy nếu đám thổ tả xâm lăng miền nam biết tôn trọng Hiệp Định Ba Lê.
Không biết sao Đêm Hát Karaoke tôi lại viết lung tung ./.

Dương Nổ

February 12, 2018 Posted by | * Truyện, * Uncategorized | 2 Comments

Chuyển Quân

Chuyển Quân
Văn Lan

image-26ac111ddc2d852fab1d3a3d220b24ec2a86ee718fdcaf6d0e535cca78d1664e-VVào những tháng cuối của năm 1972, Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân đảm nhận nhiệm vụ làm một vòng đai an ninh chung quanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu I tại thành phố Đà Nẵng. Đại đội 2 và Đại đội 4 đóng quân ngay trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh, trong khi Đại đội 3 đóng đô tại xóm Hoà Cường về phía Nam, sau lưng BTL/ QĐ. Đại đội 1, trong đó có tôi, trú đóng trong xóm Chợ Mới, hướng Bắc, đối diện BTL/ QĐ.

* * *

Một ngày gần cuối năm, có tin Tiểu đoàn đi về hậu cứ khiến mọi người bàn tán xôn xao. Vui mừng nhất là những người có gia đình, thân nhân ở Thường Đức. Họ hớn hở vội vàng ra phố, đi chợ, mua sắm quà cáp về cho gia đình, bà con chòm xóm.
Còn những chàng nào có bồ tèo ở phố, yêu đương lăng nhăng, nhưng còn nặng lòng với tiền đồ, bèn cuống quít, rối rít hò hẹn tỉ tê, dung dăng dung dẻ được lúc nào hay lúc đó Riêng những anh nào thuộc loại tình chìm nước nổi, nặng tình hơn nặng nước, bắt đầu âm thầm tính chuyện xé rào, đào ngũ.Giây phú nghỉ ngơi

Còn lại là những hội viên thuộc hội “Tình cho không biếu không”, yêu bất vụ lợi, yêu không cần đáp lại, mà tôi là một hội viên gạo cội từ thuở biết xôn xao. Tuy không vướng bận lôi thôi, nhưng chúng tôi cũng bận rộn thu xếp đồ đạc cho vào ba-lô, xong rồi lang thang hết rạp xi-nê này đến tiệm bi-da, cà-phê nọ cho khỏi phí thì giờ còn lại.

Riêng tôi, toàn thể tài sản gồm có:

Bus_4– 1 ba-lô thuộc loại của lính Mỹ, nguyên xi, mua ở trên chợ Cồn. Vì tốn cũng khá bộn bạc cho cái ba-lô nầy nên tôi không muốn nó lọt vào tay cái đám nón cối, trong trường hợp nó bị nằm lại đâu đó ở trong rừng. Vì vậy, trên nắp ba-lô, tôi cẩn thận tô lên hàng chữ bằng mực viết nguyên tử: “Cái ba-lô này đã bị ếm. Thằng nào lấy đồ trong cái ba-lô nầy thì có ngày cả băng đạn sẽ ghim vào người nó, củ bùi trước bụng sau, từng viên một.”
– 2 bộ đồ trận, cũng loại quân phục của lính Mỹ (bền và mỏng hơn quân phục do Quân Nhu cung cấp); 1 trên người, 1 sơ-cua. Hai bộ đồ rằn-ri được sửa lại cho phù hợp với kích thước với hai cái ống loa bay phất phới cho hợp gu thời đó. Một số trong chúng tôi, lính chớ không phải quan, tuy đi đánh giặc nhưng quần áo cũng cần phải hợp thời trang. Có mặc đẹp thì đánh giặc thoải mái hơn. Tất cả đều mua trên chợ Cồn.
– 1 đôi giày trận (*), cũng loại của lính Mỹ; 1 cái võng ny-lông, loại dày, cũng loại của lính Mỹ; 1 cái pông-sô-lay (Poncho Liner) rằn-ri để đắp, cũng loại của lính Mỹ; 1 cái bao đựng nước con rùa, cũng loại của lính Mỹ, vừa trữ nước vừa làm phao cấp cứu. Hy vọng như vậy, vì tôi không biết bơi. Tất cả đều mua trên chợ Cồn.
– 2 cái quần đùi (lót), 1 mặc 1 thay đổi; 2 đôi vớ, cũng 1 mặc, 1 thay đổi.
– 1 cái áo pông-sô (Poncho) loại dày, dùng vừa lều vừa chiếu. Thừa hưởng được của một thằng nào đó chết trận trước đây.
– 1 cây viết, 1 tập vở, dùng để viết lách thư từ lăng nhăng.
– 1 hộp kem đánh răng, 1 bàn chải đánh răng.
– 1 cái muỗng i-nóc, vừa múc thức ăn vừa cạo gió.
– 3 cây thuốc Bastos, số lượng nhiều it tùy theo đầu tháng hay cuối tháng.
– 1 quyển sách, trước đọc sau rải truyền đơn.
– 1 quyển album bỏ túi đầy hình dầy cộm, trước để xem, sau dùng làm khiên để che quả tim. Cản được cỡ nào hay cỡ đó.
– Và quan trọng nhất là 1 bao gạo sấy khổ lớn, luôn luôn nằm dưới đáy ba-lô, được thay đổi thường xuyên, dùng để dự trữ cho những lúc không được tiếp tế, và sự hữu dụng thiết thực của nó đã chứng minh nhiều lần trong những năm tháng sau này.
Tất cả những thứ này, cái nào bỏ được lên người thì tôi mang, còn lại, tôi cho tất cả vào trong cái túi ba-lô, rồi đợi ngày lên xe đi về Thường Đức.

* * *

DaNang_1967_7Kể từ ngày tôi về với Tiểu đoàn cho đến nay, hết Huế rồi Đà Nẵng, xong Quảng Ngãi lại cũng về Đà Nẵng, hành quân hết chỗ này lại đi giải tỏa chổ nọ, nhưng tôi chưa bao giờ biết mặt hậu cứ ra sao. Tôi nghe nói hậu cứ đặt ở Thường Đức, nhưng tôi không biết Thường Đức nằm ở chỗ nào. Chỉ nghe nói là nó ở xa, xa lắm, giáp dãy Trường Sơn, gần biên giới Lào, chung quanh chỉ toàn rừng với núi.

Bản tính tôi vốn thích ngao du sơn thủy, có dịp đi đến những nơi xa lạ là tôi cảm thấy hứng khởi thích thú. (Đồn rằng khi còn nhỏ, tôi đã mò mẫm ra đường cái quan, đeo xe đò, đi hoang sang những thành phố lân cận, thường xuyên.)

Nay nghe nói ở Thường Đức có rừng sâu rậm rạp, cây cối đồ sộ cao lớn che khuất cả vòm trời. Tôi tưởng tượng đến những khu rừng âm u huyền bí ở miệt Bắc trong những câu chuyện đường rừng của ông Thế Lữ, đã làm tôi vừa mê vừa run từ hồi còn bé.

Tôi mường tượng Thường Đức với những triền núi xanh đậm cây rừng; có buôn Thượng với những căn nhà sàn, xen lẫn với cây cối, nằm bên giòng suối róc rách chảy. Trên những phiến đá ven bờ suối, vài cô sơn nữ đang giặt giũ, cười nói líu lo hòa cùng tiếng chim ríu rít hót, được đệm thêm bằng những âm thanh rù rì xôn xao của lá rừng vào mỗi lần gió thoảng.

Rồi tôi hình dung đến hậu cứ với những doanh trại khang trang, có đầy đủ giường chiếu mùng màn như những trại lính đó đây ở Đà Nẵng. Tôi sẽ không còn bị cảnh phải ngủ ké ngoài hiên nhà của người dân. Và nhất là không cần phải dậy sớm thu gọn võng mùng trước khi gia đình chủ nhà thức dậy. Trong thâm tâm, tôi cho rằng, nếu hậu cứ có tệ lắm thì cái tiện nghi tối thiểu của nó cũng thuộc vào loại kiểu quân trường: Một cái giường ọp ẹp và một lũ rệp hành quân bất kể ngày đêm.

DaNang_1967_5Ngần ấy thôi cũng đủ làm tôi hăm hở nôn nao chờ ngày đi về Thường Đức, một chỗ tôi chưa hề tới, một chỗ tôi có thể gọi là nhà.

* * *

Đà Nẵng – Một ngày cuối năm 1972

Ngày ra đi, đại đội tập họp trước sân đình trong khu nghĩa địa đợi lịnh di chuyển. Trên sân đình, cả chục thùng đạn đã được mở nắp nằm đợi sẵn. Chúng tôi được lịnh lãnh đạn, lựu đạn, mìn, M-72 theo đúng cấp số hành quân cùng với mấy ngày lương khô.

Đám lính tráng thắc mắc, xì xào:

– (vt) Về Thường Đức mà sao giống như đi hành quân quá?

– …thì… chắc cũng phải mang đi hết chớ hổng lẻ bỏ nó ở đây?Tập họp

Thấy lính tập họp ra đi, dân chúng hiếu kỳ tụ tập coi lính ra quân. Khung cảnh chung quanh nghĩa địa ồn ào náo nhiệt. Đó đây, những nhóm người tụm năm tụm ba, mặt mày rầu rĩ, lăng xăng, năn nỉ đòi nợ. Người thì bịn rịn không rời. Có nàng nước mắt rưng rưng. Riêng đám con nít thì xôn xao hí hửng như ngày hội. Chúng nó xúm xít, chiêm ngưỡng những người lính trong quân phục tác chiến như những chàng hiệp sĩ sắp ra sa trường. Bình thường, chúng nó chỉ thấy chúng tôi trong quân phục nghiêm chỉnh, giày đánh bóng, quần bó ống, áo xắn vai, đầu mũ nâu v.v… Nay, tay áo ống quần được thả xuống, đầu đội nón vải nón sắt, dây đạn đeo đầy người, ba-lô súng ống tua tủa, trông chiến lắm. Đám choai choai lớn hơn thì trầm trồ, chỉ chỏ, bàn tán những loại vũ khí đang dựng, gác xếp khắp nơi, đây đó trong hàng quân.

Một vài đứa trong chúng tôi thấy ba-lô của tụi nó không đủ chỗ để bỏ hết lương khô, bèn đem một số đồ hộp, gạo sấy đi cho những người quen hay cho mấy thằng nhóc trong xóm đứng gần đó. Tôi thấy vậy cũng bắt chước đem mấy hộp bánh cho mấy đứa lỏi tỳ đang đứng bên ngoài.

Có lệnh đi, chúng tôi lục rục quàng dây đạn, đeo ba-lô, súng lên vai, chuẩn bị di chuyển. Một vài tiếng nấc thổn thức bật lên trong số người đi đưa tiễn. Tiếp theo là những âm thanh sụt xùi, tỉ tê. Tôi cứ nghĩ, kể từ ngày hôm nay, dân trong xóm Chợ Mới sẽ vui mừng trở lại cuộc sống thường nhật của họ, vì không ít thì nhiều, sự hiện diện của chúng tôi trong xóm, cả năm ba tháng qua, cũng đã thay đổi sinh hoạt bình thường của họ không ít. Chứ có ai ngờ họ lại nặng lòng bịn rịn lưu luyến thế này. Cảnh trò chuyện ồn ào náo nhiệt vài phút trước đây, nay như im hẳn chỉ còn những tiếng va chạm sắt thép của súng ống. Tôi nhìn quanh một vòng như níu lấy hình ảnh cuối cùng. Tôi bắt gặp những ánh mắt đỏ hoe với dòng nước mắt còn ướt trên khuôn mặt. Có người như không ngăn nổi cơn xúc động, để mặc cho tiếng nất bật thành tiếng khi những người lính ở hàng đầu dượm bước ra đi.

Có những tiếng xì xào bàn tán trong hàng quân,

– (vt), đi đâu đây? Sao hổng thấy chiếc xe nào hết dậy?

– Chắc lội bộ về Thường Đức. Một giọng nói có vẻ khôi hài đáp lại.

Một thằng khác, diễu cợt phụ họa theo,

– (vt), lội kiểu này chắc thì chắc đi tới mút mùa lệ thủy mới tới quá.

* * *

Theo hàng một, chúng tôi băng ngang qua bãi đáp trực thăng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, quẹo trái, hướng về Ngã Tư Quân Đoàn. Tại đây, đã có bóng dáng những người lính Quân Cảnh và Cảnh Sát Giao Thông đang chận xe cộ qua lại.

Có tiếng nói vang lên trong hàng quân.

– (vt), chắc xe đậu ở “Quà” Cường?

– Ở Hoà Cường thì tại sao Quân Cảnh lại chận xe ở ngã tư làm gì. Mình có thể đi dọc theo bên hông Quân Đoàn đi xuống cũng được.

Nói tới đây thì người lính đi đầu đã băng qua ngã tư về phía bên kia đường rồi rẽ phải về hướng Hoà Cường. Lúc này, dân chúng cộng với những người đi đường bị chặn lại, đổ xô tề tựu chung quanh ngã tư xem lính trận “di hành” trong thành phố.

Tội nghiệp cho mấy thằng lính như tôi, vì không những đeo một mớ súng đạn chất chồng lớp lớp từ đầu tới mông, từ hông bên này vòng qua hông bên kia, rồi lại còn mang thêm trên lưng một cái ba-lô nặng trình trịch như khiêng cái bao gạo trăm ký. Cái lưng của tôi nó cong quằn xuống như cái đuôi của con chuồn chuồn. Nó khòm đến độ mà thằng gù ở nhà thờ Đức Bà cũng phải buộc miệng trêu tôi. Vậy mà tôi phải phồng mang, đỏ mặt tía tai, ráng ưỡn cái lưng cho thẳng đứng để ra vẻ hùng dũng, đặng khỏi phải bẽ mặt với dân chúng đang đứng mục kích thưởng ngoạn xung quanh.

Tôi hồi tưởng lại lần tôi đi cắm trại vào năm học lớp nhì. Chúng tôi, một lũ nhóc tì cũng đi hàng dọc như thế này trên con đường phố tiến về ngoại ô. Tôi được ông thầy cử làm đội trưởng nên tôi được đi bên ngoài để giữ gìn trật tự đội ngũ của tôi. Hồi đó, cả lớp tôi không có đứa nào có được cái ba-lô. Thằng thì xách bao, đứa mang bị. Chỉ có tôi là có cái ba-lô do ông bô tôi cho mượn, sau khi cho tôi một lô dặn dò cùng vài lời hăm dọa đến tính mạng. Nhờ có cái ba lô nên tôi nổi nhất trong đám. Tôi thấy cái ba-lô như là cái bửu bối. Đeo nó vào, tự nhiên tôi thấy tôi to lớn, quan trọng hẳn lên. Tháo nó ra, tự dưng tôi bé cái xìu như cái bong bóng xì hơi. Vì vậy, suốt cả cuộc hành trình, mồ hôi vã ra như tắm, nhưng tôi vẫn cứ khăng khăng đeo cái ba-lô trên vai. Thấy mấy đứa cùng trang lứa đứng bên đường thèm thuồng trông theo đám học trò đi cắm trại, tôi làm dáng trịnh trọng ra vẻ mình là đội trưởng cho le lói nên trông cũng hách xì-xằng lắm. Tôi làm cứ y như là không có tôi đi bên ngoài thì cả cái đám lỏi kia không có đứa nào biết đi thẳng hàng cho được.

Tiếc rằng quân đội không nhìn thấy cái tài lãnh đạo của tôi nên tôi phải khệ nệ khiêng súng ôm đạn đi đứng loạng choạng như thế này. Chứ nếu mà quân đội có cái nhìn xa như ông thầy tôi hồi đó, thì tôi cũng đi đứng hiên ngang lắm chứ. Hổng chừng còn ngon nữa kìa. Âu, đó cũng là vận nước!

Đến ngã tư rồi chúng tôi cũng không thấy một chiếc GMC nào đậu sẵn trên đường. Thay vì cứ tiếp tục đi thẳng về hướng Hòa Cường, người lính đi đầu lại quẹo trái đi vô ngôi trường trung học nằm cạnh con sông Hàn gần đó. Đám lính chúng tôi phân vân không hiểu đi vô trong trường học để làm gì.

– Ê, hổng lẻ mình đổi chỗ đóng quân ở trong đó?

– Chỗ này là trường học mà đóng quân cái mốc gì.

– Chắc Hải Quân đến chở mình về Thường Đức bằng tàu?

– Nếu mà đi bằng tàu thì mình phải đi qua bến tàu bên kia chớ vô đây làm chi.

– Biết đâu bên kia có tàu đang bốc hàng, nên không có chỗ cho tàu vô rước mình, nên họ phải dùng tạm cái bãi này.

Một thằng tương đối biết suy nghĩ hơn trong bọn bèn góp ý:

– Tao nghĩ là trực thăng đến đón mình.

Tự nãy giờ mới thấy có một thằng ăn nói ra hồn. Tôi nghĩ nó nói chắc có lý. Nếu dùng trực thăng đến chở chúng tôi thì chỉ có nơi đây là thích hợp và gần gũi nhất.

* * *

Ngôi trường Trung học là một dãy nhà lầu, nhiều tầng, nằm dọc theo bờ sông Hàn. Một mặt hướng ra đường, đối diện hông Quân Đoàn. Mặt kia, kế bờ sông Hàn, trông về bên Mỹ Khê. Nằm giữa bờ sông và ngôi trường là cái sân chơi rộng chạy dọc theo chiều dài ngôi trường. Ngoại trừ hướng Tây là đối diện trực tiếp với khuôn viên của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và thành phố Đà Nẵng, ba hướng còn lại với khung cảnh trống trải và quang đãng, nhất là hướng đông cạnh con sông Hàn, nên cái sân chơi là nơi thích hợp cho việc trực thăng lên xuống bốc quân rất là thuận tiện.Trực thăng vận

Như để xác định với tôi lời thằng tuyên bố vừa rồi là chính xác, chúng tôi được lịnh tập họp thành từng toán nhỏ. Mỗi toán cho mỗi chiếc trực thăng.

Tin đi bằng trực thăng làm đám lính xôn xao. Một vài đứa tỏ ra thành thạo:

– (vt) Chắc là đi hành quân rồi. Chớ đi Thường Đức thì cần gì phải đi máy bay. Hèn gì lúc lãnh lương khô là tao đã nghi ngờ rồi.

– Thôi đúng rồi. Chắc là đi Quế Sơn. Nghe nói lính mình đang quýnh nhau ở đó.

Tội nghiệp cho mấy người ở Thường Đức. Họ bán tín bán nghi lăng xăng đi hỏi đầu này đầu nọ. Có người vội vàng đem những gói quà đưa cho ông tiếp liệu của Đại Đội nhờ chuyển về hậu cứ dùm cho họ.

Khi còn ở quân trường, tôi cũng có học qua cách hành quân Trực Thăng Vận. Tôi cũng trèo lên nhảy xuống, lăn lộn, đủ cỡ đủ kiểu, nhưng mà chỉ tập với trực thăng giả nằm lơ lửng ở trên không. Bây giờ sắp sửa chơi với thứ thiệt, bay thiệt, nên tôi cảm thấy hồi hộp, nhưng đồng thời, máu mạo hiểm trong người tôi cũng ồn ào giơ tay giơ chân tình nguyện nên tôi cũng cảm thấy háo hức.

Tôi lo nhất là nếu phải bị ngồi đong đưa ở bên mép sàn trực thăng. Tôi sợ chiếc trực thăng bay nghiêng hay quẹo ngoặt một tý thì tôi chỉ có nước bay lọt ra ngoài. Tôi tự dặn mình, làm sao cũng phải chen chân dành cho được cái chỗ chính giữa, ở ngay trong lòng trực thăng cho chắc ăn.

* * *

Trong khi chờ đợi trực thăng đến đón, đa số lính tráng tụm năm tụm ba, đứng ngồi tán gẫu. Còn tôi, cái viễn ảnh bị lọt ra ngoài trực thăng cứ chạy lòng vòng trong đầu cho nên tôi cũng chẳng hứng gì nhập bọn với tụi nó. Để xua đi những ý nghĩ hắc ám, tôi rút trong ba-lô ra tập giai phẩm Văn để đọc cho quên đi nỗi lo lắng trong lòng. Thằng ngồi bên cạnh tôi, nhìn qua hỏi:

– Hê, đọc cái gì vậy mậy?

– Báo Văn.

– Báo gì?

– Ờ, thì cái tờ báo tên Văn ấy mờ.

– Đưa tao coi thử coi.

Tôi chìa tờ báo cho nó. Lật qua lật lại vài trang, đọc được vài giòng, nhìn lên nhìn xuống một hồi, nó trả lại:

– (vt) Báo biếc gì mà đọc nghe muốn nổ đom đóm.

Tôi cười đồng tình với nó:

– Ờ, tao cũng vậy. Đọc thì đọc chớ nhiều khi tao cũng hổng biết họ nói cái gì. Mà có lúc tao cũng hổng biết họ có biết họ nói cái gì không nữa.

– Dị, sao mầy mua làm gì?

– Thì mua đọc chơi. Không bổ chiều ngang thì cũng bổ chiều dọc. Bữa nay đọc không hiểu thì ngày mai chắc hiểu.

Tôi không nói cho nó biết là tôi mua cái tập sách này là chỉ để nhắn nhủ với mấy cô nàng bán sách bên ngoài chợ Hàn rằng tôi cũng thuộc loại chữ nghĩa đầy bồ. Mua xong rồi nhưng tôi nào có để cho cô bán hàng bỏ quyển sách vào trong bao giấy đâu. Tôi còn cần phải cầm tập sách để lộ chữ “Văn” to tổ bố ra ngoài, lượn qua lượn lại mấy cái tiệm sách vài vòng, để cho các nàng biết tôi cũng thuộc loại am tường văn võ chứ chẳng phải là kẻ thường tình.

Như không muốn tiếp tục một câu chuyện vô bổ cho nó, nó bèn chuyển sang một đề tài khác, một chủ đề mà nó đang thổn thức:

– Hê, mày có bồ không?

Tôi trả lời:

– Bồ hở?… Ồ, bồ thì tao có bồ nhiều lắm.

– (vt), mày lại dóc rồi. Có nhiều bồ sao tao không thấy đứa nào tới gặp mày dậy.

– Bửa nay đứa nào cũng bận hết. Phần thì đang đi học, còn lớp khác thì đang chuẩn bị đi thi hoa hậu trong tỉnh.

Tự dưng nó nhăn răng cười ngặt nghẽo y như rằng nó nghĩ tôi nói dóc. Thấy nó cười sặc sụa nên tôi cũng cười theo chẳng màng giải thích, rồi nhìn xuống tiếp tục đọc báo.

Thấy tôi bỏ ngang, nó bèn khịa chuyện: – Chưa đi mà tao đã thấy nhớ nàng quá mầy. Không biết chừng nào mới có dịp trở lại Đà Nẵng!

Nghe giọng nói của nó có vẻ như muốn trút bầu tâm sự. Tôi cũng tò mò muốn biết sự tình nên đóng tập sách, quay qua nó. Tôi chợt nhớ ra có lần tôi đã thấy nó đi chơi với một cô nàng nào đó ở trên phố bèn chọc:

– Tương tư rồi đó hở?

Được tôi ướm lời, nó đáp không suy nghĩ:

– Ờ, không biết giờ này nàng đang làm gì.

Tôi ra giọng kẻ cả:

– Thế con bé tên gì, con cái nhà ai, ăn học thế nào?

Nó như không lưu tâm tới câu nói pha trò của tôi:

– Nàng phụ mẹ bán hàng ở Chợ Trời trên Chợ Cồn.

Tôi nhớ ra cô gái đó:

– Có phải cô bé bán ở cái sạp chuyên buôn bán đồ lính đó không?

– Đúng đó.

– Thế là chuột sa hũ nếp rồi. Quen lâu chưa vậy?

– Vài tháng nay.

– Mi chưa?

Nó cười ruồi:

– Tay còn chưa dám cầm nữa mà mi với miết.

– Như vậy là mới chỉ mày với tao thôi, chớ chưa là anh với em?

– Tên thôi.

– Chỉ có tên thôi mà đã nhớ rồi à? Mà nhớ thì viết thư đi, viết cho nàng biết.

– Viết cái gì bây giờ?

– Thì viết là mày nhớ nàng lắm. Nhớ da diết. Nhớ đến mức tối ngủ khóc ướt cả ba-lô.

– Mày cứ chọc quê.

– Thế nói thật nghe. Mày nhớ cái gì nhất? Ở bên nàng, mày cảm thấy như thế nào?

Nó suy nghĩ:

– Tao nhớ nhất là khi đi chơi, mỗi lần áo dài của nàng bị gió thổi đụng vào chân tao. Nhất là mỗi khi tóc nàng bay qua đụng cái mặt tao. Tao thấy có một cái cảm giác ly kỳ lạ lùng hồi hộp lắm.

Tôi đề nghị:

– Đó, thì viết y như vậy đó. Nói là nhớ cái áo nàng quyện vào chân mày làm mày cảm thấy rung động. Nói là nhớ lần tóc nàng bám vào mặt mày làm cho người mày rạo rực xốn xang.

Như không hài lòng với lối diễu cợt của tôi, nó chưởi thề:

– (vt), mày chỉ được cái phá đám.

Nói xong, nó quay qua chỗ khác như không muốn nghe lối nói chuyện nhảm nhí, chọc ghẹo, của tôi nữa. Tôi nhìn quanh, thấy không có gì hấp dẫn nên tiếp tục cúi xuống đọc sách. Đọc thì đọc, nhưng tôi không để ý tới những chữ trong sách. Trong đầu tôi vẫn lẩn quẩn mẫu đối thoại của nó. Tôi chợt nghĩ, hay là làm cho nó bài thơ con cóc chọc nó chơi. Làm xong, tôi đưa cho nó:

– Hê, lấy cái này gởi cho nàng. Bảo đảm nàng sẽ cảm động lắm.

Vào mặt trận
Nó cầm lấy đọc:

Thôi,
mày ở lại,
tau đi về Thường Đức.
Rồi một mai khi thanh bình trở lại,
đất nước hết binh đao thì tau sẽ… thăm… mày.

Chưa đọc hết, nó liệng tờ giấy lại cho tôi rồi cười rũ rượi:

– (vt), thơ thiếc gì mà đọc lên như xuống câu “dọng” cổ.

Thấy nó không chịu, tôi bèn đưa bài khác cho nó:

– Mày không thích vọng cổ thì xài cái này vậy.

Thôi em nhỉ,
tôi tiếp tục lên đường đi chinh chiến.
Cảm tạ em,
cho những buổi hẹn hò.
Và cho lần,
tóc em vướng nhẹ trên môi.
Rồi từ đấy,
tôi mang theo niềm tin,
tôi mang theo hy vọng,
tôi mang theo ấm êm.
Tôi mang theo
mùi hương tóc hôm nào,
trên khắp nẻo đường đất nước.
Em biết chăng?
Tôi đã hôn em rồi đó,
… trên tóc thôi.
Chứ bố bảo,
tôi cũng không dám mi em.
Nhỡ em nổi quạu,
em bịch cho một phát sái quai hàm,
thì không còn đường nhai gạo sấy.

Tôi chăm chú theo dõi khuôn mặt nó khi nó đọc. Đến đoạn cuối, nó nhăn răng cười sằng sặc.

– Khúc đầu thì nghe cũng được nhưng khúc sau thì nghe có vẻ phàm phu quá.

* * *

Đang tán phét, đột nhiên có nhiều tiếng trực thăng vang vọng trên không. Từ xa, một đoàn trực thăng như những đốm đen lấm chấm xuất hiện trên nền trời, đang bay dần về hướng chúng tôi. Không ai bảo ai, mọi người lục tục trở về vị trí của mình chuẩn bị lên đường.

Đoàn trực thăng vẫn nhắm hướng chúng tôi bay tới. Mối lo âu, về cái viễn ảnh la hét, bắn nhau, súng nổ, đạn bay, máu chảy, kẻ rên, người chết, toàn những hãi hùng, sẽ xảy ra tại Quế Sơn, hay đâu đó, cũng có thể là Quảng Trị, trong vòng vài tiếng đồng hồ sắp tới, bắt đầu manh nha trong tôi. Đoàn trực thăng càng hạ thấp tiến gần, hình dạng chiếc máy bay càng rõ nét lớn dần, nỗi lo sợ càng tăng thêm bội phần. Mặc dầu tôi đã cố gắng hết sức đuổi xua những ý nghĩ không hay đang chiếm ngự trong đầu, tôi cũng không khỏi phân vân, liệu mình có may mắn được thêm một lần nữa, hay không?

Theo thói quen mỗi lần xuất quân, tôi bấm nút tháo băng đạn chiến (**) ra khỏi súng. Dùng ngón cái ấn vài lần xuống dãy đạn đang nằm thứ tự bên trong, để lường xem lực đàn hồi của lò xo, có đủ mạnh để đẩy đạn vào nòng, xuông xẻ hay không. Thấy không có gì lạ thường, tôi lật ngược băng đạn sang đầu băng bên kia và lập lại động tác vừa rồi. Thấy không có gì trở ngại, tôi gắn băng đạn trở lại vào súng. Một tiếng “cách” vô hồn của kim loại va chạm khẽ vang khô khan. Băng đạn đã lọt hẳn vào ngoàm khoá chặt.

Từng chiếc trực thăng tuần tự đáp xuống. Cánh quạt trực thăng quay vùn vụt tạo nên những cơn lốc xoáy mạnh chung quanh chiếc trực thăng. Bụi cát và rác rưới gần đấy bị hút bổng lên không, quay cuộn thành vòng, bay loạn trong gió cuốn, rồi từng lớp, từng lớp, đảo mạnh xuống, quét ào ngang, quất thẳng vào những người lính đang đứng ngồi chờ đợi. Tiếng động cơ trực thăng nổ lớn và có phần dồn dập hơn chực muốn bay lên như thúc hối đoàn quân lẹ bước lên đường. Cứ mỗi chiếc trực thăng vừa chạm đất thì có một toán lính đã chờ sẵn, người nào cũng cúi đầu, tay giữ nón, lom khom chạy lẹ ra, leo vội lên máy bay. Ở hai bên hông mép trực thăng, mỗi bên có 3 người lính Biệt Động Quân ngồi đưa chân đong đưa ra ngoài. Số còn lại, ngồi chen chúc bên trong lòng thân máy bay.

Sau khi đoàn trực thăng đã bốc xong đợt đầu tiên, toán tôi được lịnh di chuyển đến vị trí chờ sẵn cho đợt bốc quân kế tiếp. Tôi hồi hộp đi đến chỗ đợi.

o O o

Cảnh máy bay ồn ào lên xuống khơi động tính tò mò của mọi người, nhất là dân ở thành phố, vì chẳng mấy khi họ có dịp chứng kiến cảnh lính trận chuyển quân bằng trực thăng. Có một số thầy cô đã bỏ lớp ra ngoài xem coi máy bay lên xuống. Không mấy chốc, trên những hành lang bên ngoài lớp học đã lúc nhúc đông đảo những học sinh.

Đến nơi, thả chiếc ba-lô xuống đất, không biết làm gì hơn, tôi tò mò nhìn lên những lớp học. Tôi chợt thấy nàng hiện ra. Nàng đẹp tuyệt trần, đẹp ơi là đẹp. Tim tôi háo hức đập dồn dập có nhịp có điệu như trống múa lân. Người đời cứ cho rằng Tiên đẹp ghê gớm lắm nhưng tôi chưa nghe ai nói đã có diểm phúc gặp gỡ được Tiên. Riêng Tiên của tôi thì tôi chỉ thường gặp được trong mơ. Sáng ra ngủ dậy, thấy Tiên giống na ná như những cô nàng mới gặp hôm qua. Vì chưa gặp Tiên bằng xương bằng thịt bao giờ, nên tôi không biết Tiên đẹp não nùng như thế nào. Nếu có, tôi nghĩ, Tiên mà đẹp được như nàng là Tiên may mắn lắm.

Tôi chưa thấy ai có một nét đẹp thanh tao huyền hoặc như nàng. Nàng sáng lên rực rỡ trong bộ đồng phục với chiếc áo dài nữ sinh màu trắng mượt bóng bẩy như ngọc trai. Trông nàng cao sa, thánh thoát, kiều diễm như một thiên thần. Chung quanh nàng như tỏa ra một vùng hơi sương óng ánh che mờ những cô cậu nam sinh nữ sinh gần đó. Vương miện nàng là chiếc bê-rê màu nâu. Hào quang phát ra từ chiếc mũ nâu làm một vòng tròn quanh đầu nàng lung linh sáng. Khoác trên vai nàng, trông tựa như thanh kiếm là khẩu M-72 được đeo dọc theo một bên vai. Hai tay nàng ôm cây M-16, xéo trước ngực, trong tư thế bồng súng. Nàng đứng đó, bất động, nhìn về hướng tôi. Trông nàng một mực uy nghi, lẫm liệt nhưng không kém phần diễm lệ.

Bất chợt, nàng nhoẻn miệng cười, thầm thì trò chuyện cùng những bạn học kế bên. Qua nụ cười, bỗng dưng, tôi thấy nàng hơi quen quen. Sau một hồi kiểm kê trí nhớ, tôi nhận ra nàng là cô gái tôi đã gặp trong một khu phố ở bên Hoà Cường trước đây.

Số là, một bữa nọ, thằng Bình ở bên Đại đội 2 cùng với một vài người bạn qua rủ tôi đi “tuyên truyền chiêu hồi” bên phố Hòa Cường. Thấy tôi có vẻ ngơ ngác, nó cười giải thích:

– Đi dẹp nhảy đầm đó mà. À, thì ra thế. Qua kinh nghiệm lần trước, tôi nhắc nhở nó:

– Bộ lần trước bị dũa thê thảm chưa ngán sao mà lần này còn đi phá nữa?

Nó cười đáp lại:

– (vt) Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó.

Vài hàng về nhân vật tên Bình này. Nó có một khuôn mặt khá bô trai, cao ráo, luôn miệng cười, ít nói, sành điệu và tốt với bạn bè. Nghe kể rằng trước khi tình nguyện vào Biệt Động, nó từng là du đãng thuộc loại có máu mặt ở Cao Đồng Hưng, Sài Gòn. Nhờ có khiếu và thường xuyên la cà ở mấy cái phòng trà nên nó nhảy đầm rất điệu nghệ và có tiếng là “Vua făn-ta-zi”. Với cái vốn liếng făn-ta-zi đó, không mấy chốc, nó được giới nhảy đầm ở Đà Nẵng biết đến và săn đón để được nó chỉ giáo.

Cho đến một ngày, nhà của một ông Nghị Hội Đồng Tỉnh tổ chức nhảy đầm và nó được mời đến dự. Sau những bước făn-ta-zi lả lướt trước những anh mắt trầm trồ của bá quan văn võ thì đến màn nó hướng dẫn thiên hạ những chiêu thức múa ngoáy ngoạn mục. Đột nhiên nó dở chứng lên giọng dạy dỗ thiên hạ: Nào là, có biết bao người cùng trang lứa với họ, hay thân nhân bà con của họ, đang ngã xuống ngoài mặt trận, hoặc đang bị thương lăn lộn máu me bê bết, hay đang quýnh nhau với tụi Việt Cộng để cho họ được an toàn vui chơi ở hậu phương; Nào là, đất nước đang trong hoàn cảnh chiến tranh mọi người cần phải ủng hộ, chia sẻ, kể cả mặt tinh thần; Nào là, nhảy đầm là một hình thức vui chơi giải trí nhưng không thích hợp với hoàn cảnh hiện tại; Nào là, hành động ôm nhau xà nẹo như thế này là một thái độ tiêu cực, một hình thức đâm sau lưng chiến sĩ. v.v… và v.v… Phán xong, nó bỏ ra về trước những ánh mắt ngỡ ngàng, lẫn bất bình của những người hiện diện hôm đó. Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa, tiếng phá đám dọt lẹ hơn honda. Chẳng biết ai mách bảo ra sao, mà ngày hôm sau, cái tin nó phá đám lọt đến tai ông đơn vị trưởng. Thế là nó bị ổng kêu lên xài xể cho một mạch về cái tội phá bĩnh cuộc vui của người khác.

Trước khi vào lính, tôi cũng bị ảnh hưởng của giới thời thượng thu hút nên cũng tập tành nhảy nhót cho mình có được cái “mat” văn minh, ăn chơi với thiên hạ. Sau khi thành lính, tự dưng tôi lại khó chịu với chuyện nhảy đầm. Chân cẳng đi đứng bây giờ trở nên rắn chắc, khỏe mạnh, hiên ngang chứ không còn mềm mại, ẻo lả, yểu điệu như xưa. Nếu là thời bình, dắt díu nhau lê theo tiếng nhạc, kẻ lôi qua người kéo lại, nàng lên đầu gối, chàng giựt cùi chõ, thụi nhau túi bụi, tôi thấy đó cũng là một hình thức giải trí thể dục thẩm mỹ. Thế mà sao cái vụ ôm nhau xà nẹo trong khi tiếng bom, tiếng pháo vọng về bên tai thì tôi lại thấy nó có cái gì không ổn. Như người xưa đã nói: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, chứ có ai nói “Giặc đến nhà, chúng ta khiêu vũ” bao giờ. Tuy nhiên, các cụ cũng chẳng nói “Giặc đến nhà, không ai được nhảy”, như vậy thì nhảy nhót đâu có gì đáng trách. Cái kẹt là, trong lúc “đàn bà cũng đánh” mà “chúng ta khiêu vũ” thì thấy có vẻ thờ ơ với thời cuộc. Vì vậy, nếu nhắc nhở ai đó chớ nên thờ ơ thì đó là một việc làm cần được khích lệ.

Tuy đồng tình với thằng Bình, nhưng tôi cũng ớn cái máu giang hồ ngày xưa của nó nổi dậy nên hỏi cho kỹ càng:

– Như lần trước, phải không?

– Thì cũng như lần trước vậy!

– Có nghĩa là, mày vô đó làm một màn biểu diển để thiên hạ chú ý. Chờ lúc thuận tiện thì mày lên giọng “thuyết pháp”. Tụi tao đứng vòng ngoài hổ trợ mày. Mày giảng xong, tụi mình đi ra. Không gây lộn, không lời qua tiếng lại, kể cả khi họ chửi bới sau lưng?

Nó đồng ý.Thế là tôi đi theo tụi nó qua bên Hoà Cường. Đến nơi thì mới hay rằng buổi nhảy đầm đã được tổ chức ở một nơi khác. Thấy “mục tiêu” không còn nữa, cả bọn đứng lớ ngớ bên ngoài. Lạ cảnh, tôi đưa mắt bâng quơ nhìn ngó chung quanh. Trong khung cửa ở bên ngôi nhà đối diện, có một người con gái vừa bước ra đứng nhìn về phía chúng tôi. Dưới ánh sáng của ngọn đèn nê-ông, không chỉ riêng tôi, mà cả đám đực rựa hôm đó đều đờ đẫn ngẩn ngơ trước sự xuất hiện của nàng. Với chiếc băng-đô màu hồng đậm trên mái tóc thề, nàng hiện ra như một nàng tiên vừa giáng thế. Như thấy chúng tôi như một lũ ngố đứng há hốc thẫn thờ, nàng nhoẻn miệng cười như thông cảm cho sự ngô nghê của đám mày râu.

Hôm nay, nàng cũng cài chiếc băng-đô màu hồng đậm trên mái tóc. Tóc nàng được vén sang một bên vai rồi thả xuống phía trước trông rất quyến rũ. Một tay nàng đặt tựa trên lan-can, tay kia đưa cao như vân vê mái tóc. Như mấy cô cậu học sinh khác, nàng đang chăm chú xem coi sinh hoạt của đoàn quân.

Đợi khi nàng quay xuống về hướng mình, tôi vụt đứng vội lên để hy vọng nàng nhận ra tôi. Nàng dừng lại hơi lâu nhưng tôi không chắc nàng có nhận ra tôi không? Tôi muốn đưa tay vẫy nhưng lại ngại làm trò cười cho mấy thằng xung quanh. Tôi đành đứng tại chỗ vời trông, lạy Trời cho nàng ngó xuống nhận ra tôi.

Thấy tôi chăm chú nhìn nàng, thằng bạn bên cạnh bắt lấy cơ hội chọc quê tôi:

– Đẹp thiệt đó mày. Bồ mày nữa đó hả?

– Ờ.

– Mày dóc bỏ mẹ. Bồ, mà sao nó như không thèm nhìn mày?

– Dóc hồi nào. Mày nói nó là bồ của tao, chớ tao có nói tao là bồ của nó bao giờ.

Trong khi ấy, nàng vẫn tiếp tục líu lo với những bạn học bên cạnh. Có lẽ nàng không nhận hay không muốn nhận ra tôi. Tôi thấy nàng có vẻ đang theo dõi một ông quan ở Đại Đội 3, đang tỉ tê với cái ống liên hợp rất là ướt át.

o O o

Đoàn trực thăng đổ xong đợt lính đầu tiên trở lại đón chúng tôi. Đến phiên toán tôi, thay vì chạy cho lẹ để dành chỗ bên trong máy bay, không hiểu tại sao, tôi cũng chạy lẹ, nhưng lẹ để giành chỗ ngồi ngay bên cái mép trực thăng, đối diện với nàng, để nàng có thể dể dàng nhận ra tôi hơn. Và cũng để cho nàng nhìn thấy cái hình ảnh thiêng liêng hùng tráng của “lính Biệt Động Quân” trên đường ra sa trường.

Sau khi an tọa đâu vào đó, tôi ngước lên tìm nàng. Trước mắt tôi bây giờ chỉ là một màng bụi. Gió từ cánh quạt trực thăng ào ra, thổi tung bụi cát rác rưới tung bay rối loạn trong không gian. Tôi không còn thấy ai trên những dãy hành lang. Hình như mọi người đã quay vào trong tránh bụi.

Tiếng máy bay trực thăng gầm lớn hơn. Thân máy bay chuyển động lắc lư vài cái rồi vụt cất lên cao. Mặt đất như hụt xuống đến độ chóng mặt. Tôi có cảm giác như mình gần như sắp bị hút lọt ra ngoài. Tôi muốn thụt vội vào trong cho an toàn nhưng không còn kịp nữa.

Đoàn trực thăng, theo con sông Hàn, tăng tốc độ, bay cao dần. Gió thổi phần phật, mổi lúc một mạnh hơn. Mấy cặp chân của 3 thằng chúng tôi đang ngồi đong đưa bên ngoài bị gió lùa đẩy mạnh tạt về phía sau. Khiếp quá, tôi lật đật rút vội đôi chân lên nhưng không sao cưỡng lại được với sức gió. Tôi có cảm giác như là tôi đang bị một sức hút vô hình kéo tôi dần ra khỏi thân máy bay. Hoảng hồn, tôi bấu đại vào cái sườn của thân trực thăng gần đó. Đôi chân tôi vẫn cứ bị đẩy lùi từng hồi về đằng sau. Tôi gồng người cố gắng giữ mình không để bị hút cuốn ra ngoài. Tôi có cảm giác rằng, nếu mà không có cái ba-lô nặng trịch đeo sau lưng giữ lại, thì chắc tôi, có lẽ, đã “cuốn theo chiều gió” hoặc đã áp dụng bài “tuột núi” không dây.

Hồi hộp quá, tôi bực mình cho cái tính bốc đồng dại dột của mình. Lấy le làm gì mà để giờ này sống giở, chết giở. Phải chi cô nàng có để ý đến mình đi cho cam. Đằng này, tướng đứng ở đây mà nàng không biết. Nàng chỉ thấy được tới những ông quan qua lại tới lui. Tôi tự an ủi mình, thế cũng đỡ cho tôi, bớt đi được một người khỏi phải nhớ nhung lôi thôi vớ vẩn.

Trực thăng như đã lên đủ cao độ. Hoặc là, có thể sức đẩy của gió dường như có phần giảm lại? Hay là, tôi đã quen với sự chịu đựng? Dần dà, tôi cảm thấy tự tin hơn khi biết mình có thể điều khiển đôi chân xê dịch qua lại không mấy khó khăn nữa. Tôi bớt dần cảm giác khó chịu với cái thế ngồi của mình. Tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái và bình tâm ngắm nhìn quê hương bên dưới. Những nhánh sông, những khu nhà, những con đường dập dìu xe cộ ngược xuôi, tất cả trông thật an bình, linh động.

Bên những chiếc trực thăng kế cận, những thằng bạn trong quân phục rằn-ri, tay ghìm súng, ung dung ngồi thả rong đôi chân đong đưa trong gió. Trông tụi nó còn thản nhiên hơn những “anh hùng hiên ngang đi ra sa trường” trong một bài hát nào đó. Tôi bỗng nghĩ, giá mà rinh được ông Kinh Kha hay cả chục ông về đây, rồi bắt mấy ổng đi chung trực thăng với lính Biệt Động Quân, chắc mấy ổng phải xanh mặt khóc ré lên. Tôi buồn cười khi nghĩ đến cảnh mấy ông Kinh Kha mặt mày xanh lè ôm nhau khóc sướt mướt. Và đồng thời, tôi thấy lòng rạt rào với niềm tự hào của đời khinh binh Biệt Động Quân.

Thành phố Đà Nẵng, ở bên dưới, co lại dần và lùi lại đằng sau nhường chỗ cho những làng mạc nối nhau bên những con lộ. Xa xa, nhà cửa dần dà thưa thớt và cuối cùng gom lại như những ốc đảo nằm rải rác trên những cánh đồng lỗ chỗ những hố bom. Xa hơn nữa là dãy Trường Sơn, giờ hiện rõ, những rặng núi nối nhau chạy dài liên tục đến tận chân trời.

Một người nào đó như nhận ra địa thế bên dưới mừng rỡ la lớn cho mọi người cùng biết:

– Hê! Mình đi về Thường Đức.

– (vt) Chắc không?

– Chắc. Bộ mày không thấy Đại Lộc dưới kia sao?

Cái thằng ngố rừng giống như tôi, chưa bao giờ đặt chân lên Đại Lộc, gân cổ:

– (vt) Tao mà biết Đại Lộc thì hỏi mày làm cái quái gì.

Chúng tôi đang đinh ninh là sẽ đi Quế Sơn. Tôi đang hồi hộp nghĩ tới cảnh tượng quýnh nhau sắp đến. Tôi không biết chút nữa đây, trực thăng sẽ thả chúng tôi xuống ngay vùng giao tranh, hay đáp ở một chỗ an toàn nào đó rồi di chuyển tới? Nay nghe có người nói đi về Thường Đức với một giọng có vẻ chắc nịch, tôi thấy người mình nhẹ nhõm, bao nhiêu lo âu chợt tan biến giống y như khi người đẹp gác bỏ ý định dẫn độ mình về trình diện ông bô, bà bô.

Không bao lâu, đoàn trực thăng từ từ hạ dần xuống. Quận Thường Đức rõ dần trong ánh mắt chúng tôi.

Trên sông Vu Gia, đây đó những chiếc thuyền con đang giăng câu. Trên bờ, ngôi làng Hà Tân đượm một màu xanh mướt bởi những hàng dừa rặng tre vươn cao bao phủ bên trên đan nhau chạy dài từ đầu thôn đến cuối xóm. Nơi cuối làng, dọc theo bờ con sông Côn, những chiếc ghe nằm rải rác bên nhau nối dài đến tận chân cầu. Tỏa ra từ đầu cầu là những con đường, uốn cong dẫn vào bên trong ngôi làng. Trên những con đường làng, người người dập dìu đi lại. Cách chiếc cầu không xa, cây thánh giá màu trắng, vươn cao từ ngôi giáo đường bên dưới, nổi bật lên trên màu xanh đậm của những hàng dừa. Cạnh bên hông nhà thờ, trước quán nước, những đứa bé ngừng chơi, nhảy tưng tưng như hý hửng, đưa tay vẫy.

Đây sẽ là một bức tranh miền quê thanh bình hoàn hảo nếu đừng có những dấu vết của hố bom lổ đạn lỗ chỗ trên những triền núi ruộng rẫy chung quanh. Biết làm sao đây, để xóa tan những vết sẹo trên quê hương tôi?

Có tiếng vang lên:

– Hậu cứ dưới kia kìa.

Mấy thằng chúng tôi cùng đưa mắt nhìn theo hướng chỉ tay. Trên đỉnh đồi, ngay đầu làng, là những vòng công sự phòng thủ được bao bọc bên ngoài bằng những lớp hàng rào kẽm gai. Không như ngôi làng Hà Tân bên dưới với cây lá um tùm xanh mát, hậu cứ mang một màu vàng úa khô khan của sỏi đá với những hầm hố và giao thông hào luồn lõi khắp nơi.

o O o

Càng trực thăng vừa chạm đất, chúng tôi vội vàng nhảy xuống, cúi đầu, chạy lẹ đến điểm tập trung. Thay vì đi về phía Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn như một một số lính đến trước, chúng tôi được lệnh đi qua bên phía ngọn đồi kế cận tập họp. Đến nơi, tôi mới biết toàn thể ngọn đồi là nơi đóng quân của Đại đội 1.

Chỉ riêng mấy chàng quê ở Thường Đức, anh nào anh nấy mặt mày cũng hý hửng cười toe tươi rói. Còn chúng tôi, những thằng không có một ai thân thích ở đây, tuy không tròn xoe đôi mắt, cười toét quai hàm, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy lâng lâng trong niềm hân hoan của tụi nó. Như cảm được nỗi lạc lõng của chúng tôi, một thằng cùng trung đội có nhà ở Thường Đức an ủi:

– Để vài ngày nữa đâu vào đó, tụi mày xuống nhà tao chơi. Tao sẽ đãi tụi mày một chầu.

Nghe được mời ăn, cả đám nhao lên:

– Đãi cái gì?

– Thịt heo cuốn bánh tráng. Món đặc biệt số dzách của Thường Đức.

Nói tới ăn nhậu, không khí bỗng dưng nhộn nhịp hẳn lên. Kẻ bàn qua, người nói lại ồn ào. Hình như ai cũng quên hẳn cái bỡ ngỡ lạc lõng mấy phút trước đó.

Trong khi chờ đợi đầy đủ quân số để tập họp. Chúng tôi tụm năm tụm ba tản mát quanh sân đại đội. Nhìn quanh ngọn đồi, tôi không thấy một cái nhà hay một cái doanh trại nào cả. Ngoại trừ cái văn phòng Đại Đội là một căn nhà tôn nằm chơ vơ giữa đồi, và một cái chòi không vách gần đó là nằm trên mặt đất, còn lại tất cả đều là những lô-cốt, nửa chìm nửa nổi, nằm rải rác chung quanh ngọn đồi.

Đang từ một nơi thị tứ nhộn nhịp nhà cửa san sát cây lá xanh mát, nay về đóng đô ở trên một cái đồi trọc lóc, không một nóc nhà, không một bóng nữ nhi. Nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn là sỏi với đá. Chung quanh đồi lổm chổm với mấy cái nấp hầm nứt nẻ loang lổ nhô lên từ mặt đất như những nấm mồ vô chủ hoang phế nằm lây lất trong bãi tha ma. Đang từ một nghĩa địa ở Đà Nẵng về đây, một thằng không dằn được nổi chán chường, buồn bã biểu lộ:

– (vt) Hậu cứ gì mà sao giống cái nghĩa địa quá dị!

Vài cái miệng nhăn răng cười mếu máo như đồng tình với cái nhận xét dí dỏm khá rùng rợn của nó.

o O o

Trung đội tôi được chỉ định phòng thủ về hướng Tây. Tập họp xong, chúng tôi đi theo ông Trung đội trưởng về nơi trú ngụ. Tôi và ba thằng nữa được giao cho một cái lô-cốt. Bốn thằng chúng tôi hăm hở chui vô đặt cọc làm chỗ tư gia.

Lô-cốt, được phiên âm từ chữ “blockhaus” của mấy ông tây bà đầm, thường được gọi để nói về một nơi đồn trú được xây cất bằng xi-măng hay bằng đá, rất kiên cố, được dùng như một công sự phòng thủ.

Vừa mới đưa đầu vào hầm thì chúng tôi được chào đón bằng một mùi ẩm thấp mốc meo khá nồng nặc như đang bước vào trong một hang động, hay một thạch cốc nào đó mà đã lâu rồi không có một bóng người lui tới. Còn đang bận rộn làm quen với bóng tối thì chúng tôi lại được chiếu cố khá tận tình bởi một bầy muỗi. Chúng nó kêu réo bâu quanh chúng tôi cứ y như là chúng nó ồn ào ăn nhậu trên bàn tiệc.

Bên trong hầm, ngoài cái trụ cột bằng gỗ to lớn, nằm chình ình ở chính giữa hầm để chống đỡ sức nặng của mái hầm bên trên, căn hầm không có một thứ vật dụng nào khác.

– (vt) Trại lính gì mà không có nổi một cái giường. Còn tệ hơn là ở trong quân trường nữa!

Cái lô-cốt, giờ là cái nhà của chúng tôi, được đào sâu xuống đất khoảng non 1 thước rưỡi. Vì quá thấp nên chúng tôi phải cúi đầu mỗi khi đi đứng bên trong. Nắp hầm được phủ lên khoảng 3, 4 tầng bao cát và 1 lớp xi-măng cuối cùng bên trên. Thỉnh thoảng có ai bước mạnh ở trên nắp hầm, một ít nhúm cát tuôn ra từ những bao cát đã bị rách, theo những kẽ hở rỉ rả lăn, rớt lăng tăng từng đợt xuống sàn hầm bên dưới. Căn hầm được khoét sâu bốn bề gần như vuông vức, mỗi cạnh khoãng chừng 4 thước. Sàn hầm được nện bằng đất nên cũng khá cứng rắn. Ngoại trừ 2 lối ra vào, không cửa, ở 2 bên giao thông hào, chung quanh hầm là 4 bức tường được dựng lên bằng những bao cát chồng chất lên nhau. Những bao cát, có lẽ có mặt ở đây từ lúc ban đầu, cho nên một phần lớn những lớp vải bọc cát đã bị rách thành từng mảng lớn nhỏ dính tòng teng bên ngoài thành vách. Và phần đất bên trong bao cát, trải qua bao nhiêu mưa gió, đã được ém chặt động lại thành cục, cứng rắn không kém gì một tảng đá.

Sau khi hun muỗi và quét dọn một đống rác rưởi cỏ hoang lâu ngày ở trong hầm, chúng tôi chia nhau mỗi thằng một góc hầm, cùng nhau dăng một đầu võng vào chung cái trụ gỗ ở chính giữa, còn đầu kia thì cột vào cái góc hầm của mình. Kế tiếp, lấy chiếc pông-sô máng lên trên trần để che dột, cả nước lẫn cát. Đâu đó xong xuôi, coi như tạm xong cái chỗ ngủ, chúng tôi ra ngoài, leo lên nóc hầm, tò mò, quan sát địa thế chung quanh.

Từ khi đặt chân xuống hậu cứ, lần đầu tiên nhìn thấy những rặng núi cao ngất bao bọc chung quanh Thường Đức, tôi không khỏi tránh được cái cảm giác ngột ngạt, như có một vầng ám khí vô hình nào đó đè nặng trên không. Địa thế chung quanh Thường Đức có thể ví như một cái chảo, mà hậu cứ và cả ngôi làng Thường Đức hoàn toàn nằm gọn bên trong lòng chảo, tứ bề thuận lợi cho quân bao vây, tấn công. Tôi không biết mấy ông lớn nghĩ thế nào mà chọn địa điểm này làm căn cứ, chớ tôi chỉ nhìn mấy cái núi chung quanh không thôi là tôi đã thấy lạnh buốt ở sau gáy.

o O o

Trong bữa cơm chiều, nhân có mấy thằng ở Thường Đức cùng đang ăn chung, tôi bèn chỉ tay về dãy núi ở hướng Nam, phía bên kia sông, chạy dài từ Đông sang Tây, hỏi nó:

– Cái núi bên kia là núi gì vậy, mậy?

Nó trả lời:

– À, dãy pla-tô.

– Có lính mình đóng ở trển không?

– Không.

Tôi lại chỉ về dãy núi ở hướng Tây trước mặt.

– Còn cái núi này, có lính mình ở đó không.

– Không.

Đưa tay sang về rặng núi ở hướng Bắc, tràn ra từ Tây sang Đông.

– Còn bên kia, có ai không.

– Cũng không luôn.

– Như vậy là chỉ có mình đóng ở đây thôi, còn mấy cái núi chung quanh thì không có ai hết?

Nó gật đầu:

– Ờ, chỉ có Tiểu đoàn mình là đóng ở đây thôi. Ra khỏi đây thì không còn an ninh nữa.

Để cho chúng tôi được am tường rõ ràng hơn về hiện tình nơi đây, nó bèn đưa tay chỉ về hướng Tây, xéo xéo về hướng Nam một chút, nói:

– Hồi trước, có một trại Biệt Kích ở trên Khâm Đức nhưng mà người ta bỏ nó cả mấy năm nay rồi. Bây giờ, từ đây cho tới biên giới Lào, không còn lính mình hay làng mạc gì nữa hết.

Như để hỗ trợ lời nó, vài tiếng depart từ 2 khẩu 105 ly bên phía Tiểu Đoàn bắn đi. Nó nhanh nhẩu cho biết:

– Chắc mấy ông pháo binh bắn thử hay bắn vào mấy chỗ khả nghi.

Một thằng trong bọn từ nãy giờ ngồi nghe, mắt nhìn lên trên mấy cái dãy núi chung quanh, lẩm bẩm:

– (vt) Bộ hết chỗ đóng hay sao mà lựa cái chỗ này. (vt) Tụi nó mà kéo về ở mấy cái núi đó, đứng ở trên đó mà liệng đá xuống thì cả cái quận Thường Đức này cũng nát, chứ cần mẹ gì phải đánh đấm.

Một đứa khác có vẻ thông minh bàn vô:

– Phải đóng ở đây thì mới giữ an ninh được chớ. Dân ở đây mà. Lỡ mà tụi nó muốn chiếm thì nó phải quýnh mình trước. Chớ đóng ở chỗ khác thì làm sao mà mình kéo tới phản công cho kịp?

o O o

Cơm chiều xong, tôi được chỉ định làm phiên gác từ 10 đến 12 giờ đêm. Nhân trời hãy còn sáng, tôi leo lên nấp hầm để quan sát địa thế chung quanh, nhằm để ý xem nơi nào tụi nó có thể chui vào hoặc rình rập ẩn nấp, để khi đến phiên gác, tôi sẽ lưu tâm đến những nơi đó một cách đặc biệt hơn.

Thấy tôi đứng một mình trên nóc hầm, một thằng bạn cùng đơn vị mon men đến bên cạnh. Nó cũng nhìn quanh một vòng rồi buông thõng.

– (vt) Ở đây nản quá mày!

Tôi bảo nó:

– Sao không xuống dưới làng chơi cho vui.

Nó trả lời:

– Cũng sắp tối rồi. Mà tao cũng chẳng quen ai ở dưới. Chắc mai mới đi xuống coi thử.

Nói xong, nó bèn ngồi bệt xuống nấp hầm. Tôi bắt chước nó ngồi theo. Nó móc trong túi áo ra một quyển album đựng hình. Lật nhanh đến trang có một cô gái, trông thật xinh, đầu hơi nghiêng một bên, hai tay chống cằm làm điệu như những cô gái, ca sĩ đương thời, mắt nhìn xa xăm, tư lự. Tôi nhìn theo hỏi nó:

– Bồ mày đó hả? Đẹp quá dị.

Nó cười thích chí đáp:

– Ờ.

Tôi chắc lưỡi:

– Tội nghiệp chưa! Người đẹp như thế này mà chẳng biết ăn me ăn cóc làm sao mà đến nổi phải đau miệng đau răng như vậy!

Nó trố mắc ngạc nhiên:

– Đau cái gì?

– Đau răng! Hổng đau sao mà lấy tới hai cái tay ôm cái miệng vậy?

Nhìn vào tấm hình, vỡ lẽ ra, nó bèn cười xoà, đục vào vai của tôi một phát đau điếng.

o O o

10 giờ đêm, tôi mang giây đạn cùng cây M-16 leo lên nóc hầm ngồi gác. Càng về đêm, sinh hoạt bên dưới làng càng bớt nhộn nhịp, thưa dần, rồi hoàn toàn rơi vào im lặng khi ánh đèn cuối cùng trong làng vừa tắt. Không gian bây giờ chỉ còn những tiếng côn trùng kêu nhau trong đêm. Thỉnh thoảng, từ những đồn bót chung quanh, một vài tràng đạn được bắn đi vào những nơi khả nghi. Đám côn trùng như bị đánh động nên cũng giựt mình lặng im nghe ngóng. Trên không, một trái đạn hỏa châu bừng sáng như đánh thức mọi người trở về với thực tế chiến tranh. Và để tăng thêm phần đề cao cảnh giác, 2 khẩu đại bác 105 ly bên kia đồi Tiểu Đoàn bắn ra. Tiếng đạn xé gió rít bay qua đầu rồi rớt nổ đâu đó trong những dãy núi âm u đen hù trước mặt.

Một thằng bạn, cùng ở chung hầm, như chưa ngủ được, đi ra khỏi hầm, leo lên nắp, đến ngồi kế bên tôi.

Nghĩ nó còn nhớ Đà Nẵng nên tôi cười hỏi nó:

– Bộ tương tư Đà Nẵng rồi đó hả?

Nó đáp trong giọng cười:

– (vt) Chắc vậy. Nhưng nằm hoài không ngủ được nên lên đây cho mát.

Thấy nó ra ngoài, hai thằng còn lại ở trong hầm cũng lò mò theo sau leo lên ngồi bên cạnh. Một thằng, hai tay cứ xoa lên cổ lên mặt lên tiếng phàn nàn:

– (vt) Muỗi quá, ngủ không được. Có đứa nào còn thuốc ngừa muỗi, cho tao xin một tý?

Còn thằng kia:

– Tụi mày có đi đứng trên đây thì làm ơn đi nhè nhẹ một tý. (vt) Mỗi lần tụi mày đi hơi mạnh là cát rớt đầy ở dưới đó. Coi chừng có ngày nó sụp là tàn đời.

Tôi thấy tụi nó tụ tập đông đảo trên đây có mòi không ổn nên tôi cảnh cáo tụi nó:

– Tụi mày lên ngồi cả đống ở đây thì coi chừng tụi nó bắn sẻ à.

Một thằng thuộc loại “điếc không sợ súng”, nghe vậy bèn nổi máu anh hùng:

– (vt) Nó ngon thì bắn đi chứ sợ cái đếch gì.

Vừa nói nó vừa lấy cái hộp quẹt bật lửa đốt thuốc. Một vùng ánh sáng chợt bùng lên soi sáng hình thù 4 thằng chúng tôi trong đêm. Vừa nhả khói nó vừa nói với giọng bất cần đời:

– (vt) Sớm muộn gì thì cũng có ngày bị. Hổng bữa nay thì bữa khác cũng vậy thôi.

Biết nó gàn và bướng, cả đám im lặng không thèm cải lý với nó. Một đứa bèn đổi đề tài lên tiếng than vãn:

– (vt) Tưởng về hậu cứ để được nghỉ cho khỏe, ai dè tối lại còn phải đi gác đi kích, (vt) giống y như là đi canh đi rình ăn trộm.

– (vt) Ăn cướp chớ ăn trộm cái quái gì! Một đứa khác cười cải chính.

– Thà ăn cướp đi thì để mình còn dễ tính. Đằng này nó là thằng chủ trương đi ăn cướp nhưng lại có hành vi như là kẻ ăn trộm.

– Sao vậy?

– Tại vì đám ăn cướp thì thường xử dụng vũ khí để cướp của. Nó lộ mặt đối diện với người nó tính cướp. Còn cái lũ ăn trộm thì không mang vũ khí và nó thường rình rập đợi khi chủ nhà sơ ý thì mới lẻn vô lấy trộm. Khác với ăn cướp, ăn trộm thì nó lén lút tránh mặt không cho thiên hạ thấy. Tụi việt cộng cũng vậy. Mày thấy? Tụi nó ở ngoài Bắc, đói khát kinh niên. Tụi nó rủ rê kéo nhau vô đây mang súng lận dao từ răng xuống dế, vào tận đất mình, đốt làng phá xóm. Như vậy là tụi nó thuộc loại quân ăn cướp. Nhưng, thay vì công khai vượt sông Bến Hải, dàn quân bố trận đánh nhau trực diện thì tụi nó không làm. Tụi nó lại, lẻn qua bên Lào, chui xuống Cam Bốt, lén lút ẩn trốn trong rừng trong núi. Bữa nay rình rập ở đầu hè này đào lổ chui vô. Bữa kia thì lấp ló ở bờ rào nọ nhổ cột lách vào. Trốn tránh, rình rập, lén lút, chui rúc như vậy mà không phải là lũ ăn trộm thì là cái lũ gì bây giờ?

– (vt) Hèn chi mà mình cứ đi đánh hết chỗ này rồi lại đi giải tỏa chỗ kia. (vt) Tối ngày quanh năm chỉ toàn đi đỡ chỗ này, chống chỗ nọ.

– Ờ, chống với đỡ riết thì có ngày cũng rã người. Tao nghĩ, đánh nhau mà mình chỉ toàn là thủ, thì chỉ có nước huề hoặc thua, chứ không thể nào mà thắng được. Tao ngại là nếu tình trạng này cứ kéo dài, thì có ngày nó sẽ nhổ sạch hàng rào, vào tuốt ở trong nhà, mang hết cả bàn ghế, đồ đạc, quần lót về Bắc.

– (vt) Đánh nhau kiểu này, dù có Thánh đi nữa, thì giỏi lắm cũng chỉ được 1 phần huề, còn 99 phần thua.

– Dị mà mình kéo dài hơn cả chục năm thì cả là một phép lạ. Tao không biết có một quân đội nào trên thế giới mà tối ngày chỉ đưa lưng cho thiên hạ khện mà tới cả chục năm vẫn chưa quỵ. Tao chỉ lạy Trời, cho một ngày đẹp trời nào đó, tụi nó chán, tụi nó rút hết về Miền Bắc.

– Hê! Mà tại sao mình không đánh ra Bắc hè? (vt) Phải đập vào đầu thì nó mới sợ chớ. (vt) Đập vào tay vào chân thì nó sợ cái đ… gì?

– Tao cũng thắc mắc như vậy. Tao nghĩ làm vua làm tướng trong thời chiến thì chỉ có mỗi một cái bổn phận duy nhứt là chấm dứt chiến tranh, càng sớm càng tốt. Nhưng hình như mấy ông vua ông tướng nhà mình nghĩ khác.

Một thằng phá lên cười chêm vô:

– Bởi vậy cho nên họ mới làm tướng làm vua, còn mày thì đi chăn trâu làm lính.

Một giọng có vẽ tư lự:

– Tao nghĩ làm không dể như mày nói đâu.

– Tao có nói dễ đâu? Phải khó thì mới cần đến tướng, đến vua chứ mậy. Chớ dễ thì thằng ăn mày cũng làm được vậy. Cần gì phải đợi tới vua, tới tướng!

Cả bọn cùng thừ người, mắt nhìn sâu vào trong đêm đen. Đêm tiền đồn tối tăm như mực, chẳng khác gì với vận mệnh của Miền Nam. Như một ánh sáng chợt lóe lên trong đêm, một đứa phát biểu:

– Như vậy thì mình phải chịu khó đợi cho mấy ông Đà Lạt lên làm tướng vậy.

Mọi người thắc mắc:

– Sao phải đợi mấy ông này?

Nó giải thích:

– Bởi vì, có muốn làm tướng thì mày mới tình nguyện đi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Chớ mày không muốn làm tướng thì vô Võ Bị làm chi? Mà sở dĩ mày muốn làm tướng là vì mày muốn làm những việc để đời, đánh Đông dẹp Bắc, chớ nếu mày không muốn làm những việc để đời thì học làm tướng làm gì, phải không? Chớ hổng lẽ làm tướng để được ăn trên ngồi trước hay dợt le với mấy em gánh nước, tầm thường quá dzị? Rồi, mày lại được huấn luyện tại Việt Nam, nói nghe bằng tiếng Việt, ăn cơm với cá ươn cá khô, uống nước suối nước sông, ngủ ngoài trời dưới đất, vậy là mày thuộc loại người Việt thuần túy, thì mày đương nhiên đặt để quyền lợi quốc gia của mình trên hết, ưu tiên số một, đúng không? Vì vậy, tao nghĩ, nếu mấy ông này mà là tướng thì mấy ổng sẽ có kế hoạch đánh bại cái tụi Việt Cộng trong một thời gian ngắn ngủi.

Cuối cùng, một đứa lên tiếng:

– Hê, tao nghe nói, vài ngày nữa, đại đội mình sẽ đi hành quân ở vùng bên này.

Vừa nóí, nó vừa chỉ tay về dãy plato nằm về hướng Nam. Đoạn nó quay nhìn sang dãy núi trước mặt ở hướng Tây.

– Còn đại đội 2 thì ở vùng này.

Rồi nó đưa tay chỉ về rặng núi ở hướng Bắc.

– Đại đội 3 thì ở phía bên kia.

– Sao mày biết?

– Tao nghe mấy đứa ở bên Tiểu đoàn nói. Mà mấy người ở Thường Đức cũng nói như vậy. (vt) Chớ hổng lẽ mình nằm ở đây chơi sao?

– Dị mà kêu chỗ này là hậu cứ. (vt) Hậu cứ gì mà giống như cái tiền đồn! Căn cứ thì kêu cha nó căn cứ cho rồi, còn bày đặt kêu nó là hậu cứ. Chán bỏ xừ!

o O o

Riêng tôi, tôi thấy thất vọng khá nhiều. Tôi cứ tưởng, hậu cứ là một trại lính ở hậu phương, nằm thật xa ở đằng sau chiến tuyến với những dãy nhà khang trang. Hậu cứ, đối với tôi, là nơi để cho đơn vị trở về nghỉ ngơi, dưỡng quân sau những cuộc hành quân gian khổ, giống như hậu cứ của mấy tiểu đoàn tiếp ứng thuộc Liên đoàn 1. Còn nơi đây, đây là một căn cứ địa, không hơn không kém. Nơi đây là tuyến đầu: Là nơi giặc rình rập ngày đêm; Là nơi mà mọi người lúc nào cũng trong tình trạng đề cao cảnh giác; Là nơi ánh sáng hỏa châu thay thế cho ánh đèn; Là nơi côn trùng rả rích thay cho tiếng nhạc; Là nơi giấc ngủ không được trọn vẹn; Là nơi thanh bình chỉ tìm được ở trong mơ; Là nơi, mà hạnh phúc chỉ đếm được bằng giờ. “Hết quýnh nhau rồi về đây để dưỡng quân, thì chẳng khác nào làm thêm một chuyến hành quân nữa. Dưỡng quân cái kiểu này thì chắc mau chết sớm.”. Tôi ngán ngẩm về hai chữ “dưỡng quân”.

Thôi! Thế là xa rồi những ngày rong chơi trong thành phố. Hết rồi những buổi trưa lặn lội ngoài bãi biển Mỹ Khê. Không còn những buổi chiều lang thang trên bãi biển Thanh Bình. Tạ từ những tà áo học trò cho những giây phút bâng khuâng. Xa rồi nụ cười duyên dáng của mấy cô bán sách kế chợ Hàn. Tạm biệt những rạp xi-nê. Tạm biệt những quán cà-phê với ánh đèn màu. Tạm biệt nhộn nhịp, phố thị. Tạm biệt Đà Nẵng.

Thế là thôi! Từ nay, tôi làm lính trấn thủ lưu đồn.

o O o

Thất vọng về những hình ảnh đẹp đẽ cũa một hậu cứ tôi đã vẽ trong đầu, tôi cố vớt vát tìm xem một hình ảnh thơ mộng còn lại cuối cùng về một buôn bản miền sơn cước. Hôm sau, xuống làng, nhìn những rặng núi sừng sửng cao vút bao quanh hậu cứ như những ngón tay xương xẩu vươn cao xòe ra từ một bàn tay của bà phù thủy chừng muốn chụp xuống bóp nghẹt Thường Đức, tôi hỏi một người dân địa phương:

-Có cái buôn nào ở trong mấy cái dãy núi nầy không vậy?

-Buôn gì?

-Cái chỗ mà mấy người Thượng, mấy người mang gù ở đó, đó?

-À – có, có. Có người Thượng ở trong đó, nhưng họ không mang gù, họ mang AK.

Văn Lan
[Trích Đặc San Biệt Động Quân]

Phụ chú:

(*) Giày lính. Phiên âm từ tiếng Pháp “bottes de saut” – Có nghĩa là giày của lính Dù – tiếng thông dụng là giày lính. Dùng để phân biệt với giày bố do Quân Nhu cung cấp.

(**) Trong bọn lính chúng tôi, hầu như người nào cũng có 1 băng đạn chiến. Ấy là 2 băng đạn, loại băng 20 viên, được cột chung ngược đầu với nhau để dùng khi tấn công. Với cách cột này, khi xung phong, nếu 1 băng đã bị bắn hết đạn, chúng tôi chỉ cần tháo ra, quay ngược chiều, gắn băng đạn bên kia vào, tất cả chỉ xảy ra trong vòng vài giây. Còn bằng không, trong khi vừa chạy vừa la vừa tránh đạn vừa đổi băng, mà phải mò mẫm trong túi đạn để móc ra 1 cái băng khác để thay, sự chậm trễ có thể mang về những hối tiếc

August 22, 2015 Posted by | * Truyện | Leave a comment

Vui Buồn đời bay bổng (I) & (II)

Vui Buồn đời bay bổng (I)

Tôi kể chuyện” Vui buồn đời bay bổng” bên Mỹ này ngoài đời dân sự chớ không phải chuyện bay bổng hồi còn mặc áo liền quần bên VN đâu nghe quí bạn .
****
Tôi bay cho mấy hảng hàng không dân sự nhỏ lớn bên Mỹ này tính đến nay hơn 20 năm, hảng tôi hiện đang làm lâu nay đứng hạng 6 trên xứ Mỹ này, hảng có năm ngàn Pilot.Tôi là phi-công VN duy nhứt bay cho hảng này ngoài ra cũng có hai ba ông Tàu đẽ bên Mỹ và ba bốn ông người Hawaii trông cũng rất Á-đông , riêng bên mấy cô tiếp-viên hàng không của hảng này thì dường như có 6 cô người VN (Trong số 10 ngàn cô và cậu tiếp-Viên) tôi có dịp gặp mới 2 cô VN , một cô tên Diệp nguời Bắc gia đình đâu bên Orange county cô này lớn tuổi , thường nói năng bằng tiếng Việt rất lớn tiếng mỗi lần cô gặp tôi, tôi biết tên cô làn Diệp cũng nhờ tấm card Noel cô gởi cho tôi bỏ trong hộp thư của tôi, còn trong giấy tờ cô ấy tên là Brigit (nhưng không giống Brigit Bardo của Tây) .Tên họ của cô cũng Mỹ luôn (lấy họ chồng Mỹ trước khi ly-dị ) nên dù có đọc trong danh sách Phi-Hành đoàn chả ai biết cổ là VN. Cô thứ nhì tên Thi-Thi Trần ( gia đình bên Washington DC cô này dường như là thứ nữ của một cựu đại-sứ VN họ Trần ?) qua Mỹ lúc còn nhỏ nên không nói được tiếng Mẹ đẻ , có một lần đi bay gặp cô này tôi hỏi sao Thi-Thi người Việt nam mà hỏng biết nói tiếng Việt ?. Cổ biết tôi muốn chọc quê cổ nên trả lời bằng tiếng Mỹ là “ Tui nói tiếng Việt không được nhưng mà anh tui nói được …!.Tôi bảo “You nói được tiếng Việt thì mới quí chớ còn Anh của You nói được tiếng Việt thì Who Care ?….
****
Chừng 10 năm trước lúc đó tôi còn bay loại Boeing–727 (bây giờ thì đang bay Boeing-737 hảng đã bỏ tất cả loại 727 , loại này đã củ kỹ và tốn tiền bảo trì..) nên tôi hay đi các đường bay dài từ vùng đông bắc xứ Mỹ này về California (Ba má và các anh chị em tôi đều ở bên Cali nên hầu như tuần nào tôi cũng về bên đó). Một buổi sáng sớm thứ bảy lúc đậu tại phi-trường Dayton bên tiểu ban Ohio chờ các chuyến bay khác đến để chuyển hành khách từ các phi-trường phụ cận về Los Angeles . Cô tiếp viên người Mỹ bước vào phòng lái bảo tôi là dường như có mấy “ teen ager ” người VN ở phía sau .You còn nhớ tiếng VN không , xuống nói chuyện với mấy cô ấy cho vui… Tôi nghe vậy liền buớc ra khỏi cockpit tiến về phía sau để tiếp chuyện và xem mặt mấy cô bé này , lỡ họ là Tàu hay Cambodia thì chắc là tôi ngọng , còn Mít thiệt thì tôi sẽ tiếp chuyện …3 cô người Việt đúng theo sự quan sát của cô tiếp viên người Mỹ , vì từ đàng xa tôi đã thấy có 3 cô gái Á-Đông , một cô lớn tuổi nhứt trong đám (khoảng trên 20 tuổi ) ngồi gát cẳng lên thành ghế phía trước cô này đang dán con mắt vào cuốn chưởng , tôi chỉ đọc được chữ “Điêu” của hàng trên và chữ “Hiệp” hàng dưới của bìa sách cuộn lại phía sau , chắc là là cuốn Thần Điêu Đại Hiệp?. Cô này ngó chăm vào cuốn sách chưởng và tuyệt nhiên màng không nhìn đến tôi , hai cô kia thì còn nhỏ khoảng 17,18 tuổi hai cô bé kia nhìn tôi và có vẻ hơi mắt cở khi thấy tôi tiến đến gần, tôi bèn tươi cười và thân mật làm như đã quen thân đâu lâu ngày ,tôi nói “Uả..Chào mấy cô , mấy cô ở đâu tới đây.? “.Hai cô nhỏ không trả lời nhưng chỉ nghe cô lớn trả lời cộc lốc “Grand Rapid” , tôi nghe nói Grand Rapid thì liền hỏi ngay , vậy ở trển mấy cô có biết tiệm thực phẩm Sài gòn của anh Thành(437) không ?.(Hồi đó trên Grand Rapid chỉ có mổi 1 tiệm thực-phẩm Á-đông của Đ/u Thành nhọt nên nghĩ rằng người Việt mình ai ở trên thành phố này cũng biết, anh Thành là chủ tiệm , anh là trưởng phi-cơ C-130 của tôi hồi xưa bên VN ) . “Hỏng biết ” cô lớn trả lời với một giọng cộc-lốc đanh đá miễn cưởng tôi nghe thật thấy khó có cảm tình , và cô ấy cũng không thèm nhìn đến tôi khi nghe tôi hỏi .Theo sự quan sát của tôi thì dường như mấy cô này ở đảo mới qua nên nước da cô nào cô nấy đều đen đúa xạm nắng , tôi nói thầm trong bụng ; chắc mấy má nhỏ này đã từng ở với Việt cộng một thời gian , nên mới được tụi nó giáo-dục kỹ quá thành ra mới ăn nói kiểu này.
Tôi tính náng lại hỏi thêm chuyện nhưng cảm thấy mửng này chắc chả đi tới đâu , nên đành chào qua loa mấy cô ấy rồi vội quay gót trở lên phòng lái , lúc quay lưng đi được một khoảng tôi nghe sau lưng giọng của hai cô nhỏ nói với nhau : “ Ý cái ông Bi lốt đó người Diệt-Nam “ .Tôi lại nghe giọng đanh đá của cô lớn nhứt hồi nảy nói lớn với hai cô bé kia “Thằng chả Pilốt thây kệ mẹ thằng chả chớ bây để ý làm thá cái gì” .Tôi nghe rõ lắm nhưng giả bộ như không nghe gì cả cứ tiếp tục bước vào phòng lái của chiếc Boeing-727 đóng cửa nhẹ lại như không có chuyện gì .Tôi ngồi vào ghế lái mà lòng cãm thấy ngao ngán cho lối giáo dục của một chế độ.!.Cô ô-tét đờ le Mỹ thấy mặt tôi xụi lơ và có lẽ cô thấy sao tôi chỉ nói có 2 ba câu rồi bỏ đi , cô bèn chạy theo gỏ cưả bước vô hỏi tôi bộ mấy cô nhỏ đó không thích you hả , tôi đành phải nói dối : Mấy cô đó người gốc Cambodia nên không hiễu tiếng Việt của tôi….!.
****
Vài tháng sau đó mỗi tuần tôi vẫn bay đường qua Cali nhưng thay vì ở lại Los Angeles 24 tiếng để bửa sau bay về thì hảng lại cho bay thêm một đường bay ngắn nửa xuống San Diego và ở lại đó cho đến ngày hôm sau . Hôm ấy có một ông tiếp-viên phi-hành người Mỹ đen tên Bill , ông này hồi xưa có sang Việt Nam tham chiến , lính bộ-binh đóng đâu trên Komtum , ổng nói chuyện rất tếu và biết tôi VN nên hay chạy lên phòng lái nói chuyện và chọc quê tôi hoài.Không biết hồi đó có ai dạy ông hát bài tiếng Việt , mà hể gặp mặt tôi là ông hát tiếng Việt giọng Mỹ đen đặc rệt của ổng tôi nghe mà cứ cười hoài , ổng hát “mọt cham em oi chiều nay mọt cham phần cham..”.
Phi-cơ có nửa giờ đậu tại Phi-trường Los Angeles để đổ xăng và làm sạch sẽ tầu trước khi tiếp tục bay xuống San Diego , tối hôm trước không ngủ được ngon lành nên tôi làm biếng ra khỏi phòng lái để gọi Phone cho gia đình ba má tôi vì lát nửa sau khi đáp San Diego tôi lại sẽ quá giang tàu này trở lại Los Angeles để về nhà ba má tôi và thăm các bạn bè vùng này . Đang ngồi liêm diêm ngủ trên ghế lái thì tôi nghe có tiếng mở cửa tôi cứ tưởng mấy người làm phận sự clean tàu vô phòng lái làm sạch sẽ , tôi mở mắt ra quay lại nhìn thì thấy có một cô gái VN tóc dài thò đầu vô , cô thấy tôi quay lại ngó nên cô nói bằng một giọng vui vui khác hẳn với cái giọng sắc đá của mấy cô gái mà tôi đã gặp cách đây vài tháng trước. Cô này nói : “ Dạ xin lổi ..Tui nghe cái ông Mỹ đen ở đằng sau nói ông là người Việt-Nam…mà , mà ông có biết nói tiếng Việt không ? “. Tôi nghe vậy bèn trả lời “ Dạ tui người Mỹ ..mà Mỷ da dàng chớ không phải Mỹ thiệt…tui đẻ ở Vĩnh-Long nên tiếng Việt tui nói cũng rành như cô vậy đó.”.! Cổ nghe vậy bụm miệng cười và nói “Ý cái ông này ngưòi Việt thiệt…”.Rồi cổ đóng của cái rầm chạy về phía sau. Tôi tính bước ra nhưng lúc đó hành khách bắt đầu bước vô phi-cơ nên tôi đành ngồi lại. Chừng đáp ở San Diego tôi ra đứng trước cửa cocpit để chào hành khách, chuyện này ít khi tôi làm vì gặp ai cũng nói Good bye với Thank you mãi nên tôi không thích, cô gái VN hồi nảy bước ra sau cùng , có lẽ là muốn nói chuyện với tôi, tôi đi rảo bước với cô ra ngoài cổng , cô giới thiệu cô tên là Trúc-Liên , xuống đây để họp về ngành giáo-dục vì cô là giáo-viên .(Hèn chi ăn nói lịch-sự có nét.) Tôi chưa kịp nói thêm gì thì đã có mấy ngươi Mỹ trong ban tiếp tân biết cô, chạy lại xí xô xí xào huyên thiên nên tôi bị xếp de, đành xin kiếu . Trước khi chia tay ; cô giáo này còn nói khi nào ông bay ghé ngang chổ tụi này, có ở lại lâu mời ông ghé lại chơi với gia-đình tụi này..Ông xã và mất đứa con tôi thích cũng máy bay lắm…… Tôi ừ ừ dạ dạ vân vân rồi cất bước….. À mà cũng lạ, cô giáo này quên không cho tôi biết cô ở tiểu ban nào thành phố nào ..điện thoại, địa chỉ ở đâu..làm sao mà tui thăm gia đình cổ cho được, cổ làm như là Pilốt ông thánh cái gì cũng biết, ai ở đâu cũng biết hết chắc….Lúc đó tôi mới có 40 tuổi, tôi không biết tại mình lẫm cẩm hay cô giáo kia lẩm cẩm…? .
****
Lúc mới vô các hảng Airlines thì thường ai cũng phải bắt đầu là ông Cơ-phi (Flight Engineer) của loại Boeing-727 rồi hai ba năm sau mới được cho đi học làm co-pilot , mấy cô tiếp-viên hàng-không biết là mấy tên cơ-phi đều là ma mới nên mấy chị này hay hù tuị tôi lắm. Hồi đó tôi mới vào hảng chừng được 6 tháng , có một cô tiếp viên người Mỹ tên là Vicky, lúc đi bay chung cùng một chuyến bay 4 ngày , tôi thấy sao cổ cứ ngó tôi hoài, tôi nói trong bụng “bộ cái bà già này hồi đó tới giờ chưa thấy Pilot người Á-đông hay sao mà cứ nhè tôi mà kên xì tin hoài vầy nè…” ngày thứ nhì của 4 ngày đi bay , chị Vicky nhân lúc phi-cơ đậu trên một giờ tại phi trường Dallas bả ngó trước ngó sau thấy vắng người vì hai ông pilot người Mỹ đã bỏ ra ngoài gọi Phone hay uống Cà phê gì đó , chị liền bước vào phòng lái chỉ vào mặt tôi kiểu ma cũ ăn hiếp ma mới , hất hàm hỏi :Phải you người Việt-Nam không ? Tôi nói phải , sao you biết ? .Bả nói thấy trong danh sách phi-hành đoàn có một mình you last name là Phạm thì you phải là người VN. Rồi bà Vicky này lại nói hồi năm 1966 , tui có ở bên Sàigòn lúc đó tui mới 17 tuổi..còn you thì chắc là hồi đó mới đẻ phải không ? Tôi trả lời Yes tỉnh queo . Sau 4 ngày đi bay chung trước khi tan hàng xong phi-vụ tôi chận bà Vicky lại chào và trước khi từ giả tôi nói nè Vicky con gái lớn của tui năm nay mới có 14 tuổi thôi nghen….. tôi cố ý nói vậy chi chị Vicky này nếu có đầu óc thì tối về tính lại coi tôi đẻ hồi nào….
Hảng có trên 10 ngàn cô tiếp viên nên lâu lắm, có khi cả đến hai ba hay 4 năm mới có dịp bay chung lại cùng phi vụ .Ba tháng sau đó tôi lại tình cờ bay chung với chị Vicky này một lần nữa(11 năm nay tôi chỉ gặp lại chị Vicky này có một lần dưới đất) lần này chị có vẽ thân thiện và tử-tế hơn lần trước có lẽ chị nhớ lại lần đầu gặp tôi điểm mặt nói tôi mới đẻ , còn chị ta thì đã 17 tuổi. Thực ra chị nhỏ hơn tôi đúng một tuổi , chị nói hồi đó ba của chị làm bác-sỹ tại bịnh viện Chợ Rẫy nên chị theo gia-đình sang Việt Nam, nhà ở khu chợ An-đông trên 3 năm, chị thường hay ra hồ tắm Đô-thành tắm , chị hỏi tôi có biết hồ tắm Đô-Thành không?. Tôi nói biết , chị lại hỏi một câu thật ngây thơ :sao hồi đó tui đi tắm ở đó hoài mà tui hỏng gặp you , tôi nói hồi đó tui mới đẻ mà tắm với lội làm sao được hả… Big sister…?. Chị Vicky biết tôi chọc quê nên mặt mày đỏ ké… Tôi nói tại hồi đó mỗi lần đạp xe đạp ngang hồ tắm đô thành tôi thấy cả bầy xẫm vừa tắm vừa kỳ-cọ nên nước dơ lắm, ai mà dám chui vô đó bà hả bà nội !. Chị Vicky nói hồi đó chị thích ăn cái hột gì ngọt ngọt mặn mặn của mấy chị người giúp việc hay mua về , tôi nói “Xí-mụi” , mắt chị sáng lên nói đúng rồi, sao you biết ?. Mà thứ đó bên này có bán không ?.Tôi nói có chớ, thứ gì mà không có ở xứ này. Tuần tới tui có chuyến bay qua San Francisco để tui mua cho bà mấy gói ăn chơi. Tôi qua San Francisco tuần lễ sau , ở đó được một ngày sau khi thăm mấy bậc đàn anh KQ dưới San Jose , trên dường về nhà nhỏ em ngủ tối, tôi ghé chợ tàu Oakland mua cho chị Vicky 5 gói Xí Mụi , hôm sau về tôi thẩy vào hộp thư cho chị Vicky , tuần lể sau đi bay trở lại tôi check trong hộp thư của tôi thấy có mảnh giấy nhỏ do chị Vicky viết bằng tiếng Mỹ , đại-ý cám ơn tôi về mấy gói xí mụi , chị nói ăn ngon hơn hồi đó và thấy rất nhớ Saìgòn và mấy người giúp việc cho gia đình chị ta, không biết bây giờ họ chết sống ra sao . Bên dưới mãnh giấy có đề hai chữ “Cám ơn” bằng tiếng Việt có bỏ dấu đàng hoàng đúng chính tả và còn ký tên “Chị Hai” có bỏ dấu nặng dưới chữ chị .Tôi đọc thấy vui vui và cười thầm : Mua đồ cho má này ăn rồi má còn xưng Chị Hai với mình nửa, ngon thiệt.… Chị là con cả nên mấy chị giúp việc trong nhà gọi chị là Chị Hai, bây giờ chị Vicky này muốn dợt le với tôi là lâu lắm rồi mà chị vẫn còn nhớ ít tiếng Việt-Nam ….
****
Trong số những Pilốt Mỹ mà tôi có dịp bay chung hằng ngày có ông Captain John Thomson , hồi đó trong KQ Mỹ lái F-104 siêu lưởi kiếm , ông có ở VN một thời gian ngắn tại Đà-Nẵng , có lần ông hỏi tôi , vợ của you qua Mỹ này còn mặc “ao dai” hay là mặc đồ như American woman ?. Tôi nói đám cưới , Tết ta hay các kỳ lễ lớn thì có mặc áo dài , tôi dạy ổng nói chữ áo dài cho đúng giọng VN . Sẳn đó ông nói , you làm ơn dạy cho tôi nói : “Hello! How are you “ bằng tiếng VN được không ? Tôi nói được , dễ lắm rồi tôi nói nếu lần tới ông gặp tôi ông nói Hello thì trong tiếng VN có nghĩa là “Chào ông” còn “How are you” tiếng VN có nghĩa là “ Ông mạnh giỏi”. Ổng nghe mới có hai câu vậy là đã lắc đầu lia lịa , sao mà khó nhớ và khó phát âm quá . “ I give up” ổng nói , nhưng tôi bảo , tôi biết là học tiếng ngoại quốc không phải dễ , mặc dù đối với chúng tôi hai câu mà tui mới vừa dạy ông , tụi tui nghe dễ ợt còn đối với ông thì dĩ nhiên rất khó , thôi ông chịu khó nghe tui dạy cái mánh này là cả đời ông sẽ nhớ mãi . Tôi nói ông phải nhớ hai chữ :chào ông , ông nói cái đó thì dễ , còn cái câu kia mới khó nhớ và khó phát âm, tôi nói có 3 chữ mà khó nổi gì , ông nghe đây: ông có biết cái cục kẹo “Almond Joy “ không ? Ông nói biết chớ , mà cái candy bar đó mắc mớ gì tới tiếng VN ?. Tôi nói tại ông nói khó nhớ ba chữ Ông mạnh giỏi , thành ra hể mổi lần ông gặp tôi sau khi nói : chào ông .Thì ông phải nghĩ tới cục kẹo “Almond Joy” liền . Almond Joy trong tiếng Mỹ nhưng hể nói trại trại ra tiếng VN là “Ông Mạnh giỏi “ là không có trật ly nào cả!. Quả nhiên câu tiếng Việt ông mạnh giỏi , tôi chỉ cho ông Captain Thomson và một vài ngươi bạn Mỹ , muời mấy năm nay họ đều nhớ vì mổi lần gặp tôi họ đều chào tôi bằng tiếng Việt và nói Ông mạnh giỏi rất đúng. Tuy nhiên có một chuyện trục trặc nhỏ . Cách đây mấy tháng , tình cờ tôi gặp lại ông Captain Thomson , sau khi ông chào tôi bằng hai câu tiếng Việt mà tôi đã từng dạy ổng muời mấy năm trước , ổng khều tôi lại nói , Mr Phạm tôi biết là you dạy tôi nói tiếng Việt O.K . Tuần rồi tôi có gặp một nữ hành khách người VN , tôi hỏi làm sao mà ông biết bà đó là người VN ?. Ông nói ,vì bà ta mặc “Áo dai” , ông nói tôi đứng ngay cửa cockpit chào hành khách vô máy bay , tôi nói exactly what you teach me , mà sao bà đó nghe tôi chào bả mà bả hỏng có phản ứng gì mà còn nguây nguẩy bỏ đi và nói một câu gì dài thòng ong.. ong.. ba.. ba… tôi hỏng hiểu bà ta nói cái gì hết … bộ chào đàn bà VN kiểu đó không đúng hả ? Tôi nghe ổng nói vậy nên ôm bụng cười ngất. Tôi nói trước hết tôi xin lỗi ông , cái này cũng là một phần lỗi của tôi , hồi đó tôi dạy ông cứ lo là ông khó nhớ thành thử phải dùng cục kẹo Almond joy làm chuẩn , vì tiếng Mỹ ” How are you “ nói với đàn ông hay đàn bà , ý nghĩa như nhau , còn trong tiếng VN khi gặp đàn bà thì phải nói là “Bà Mạnh giỏi “ mà khổ một nổi bên Mỹ này người ta không có làm cục kẹo hiệu “Bamond Joy” thì tôi lấy cái chó gì làm chuẩn cho ông dễ nhớ đây ? Chắc tại bả nghe ông chào bả là “ông” nên bả xì nẹt vừa đi vừa nói người ta là đàn bà mà hỏng nói chào bà mà nói chào ông !?. Ông nghe tôi giải thích vậy nên cũng chấp nhận rồi vừa cười vừa nói chắc tại vậy nên : “ She Mad at me “.( Bả giận tui).
****
Còn một ông Captain khác tên Brian , ông này lần đầu tiên gặp tôi ổng hỏi sao Mr Phạm , you lúc này còn nhớ nước mắm không ?. Hai chữ “nước mắm” ông phát âm rất đúng . Tôi nghe vậy nên cứ đinh ninh là ông nội này hoặc là có vợ VN , hay là đã từng ở VN lâu rồi nên mới biết nước mắm, tôi nói nước mắm bên Mỹ này tuy không ngon nhưng dễ kiếm lắm…Ngày hôm sau nhân lúc rỗi rảnh tôi hỏi Captain Brian , hồi đó ông ở VN bao lâu và ở tại đâu ? Nghe ông trả lời mà tôi giật mình .Ổng nói tôi chưa bao giờ qua VN cả!.Tôi hỏi :Ua vậy sao ông biết nước mắm ? .Ổng nói tôi là sĩ quan tình báo (Intelligen Officer) của bộ quốc phòng . Hồi gần cuối năm 72 trước khi được gởi qua VN tôi có học một khóa tiếng Việt tại ngũ giác đài , học nói những câu tâm-lý để giao dịch với người Việt khi cần , cho nên dù mới đến VN nếu phải nói thì cũng nói những điều tuồn như là mình đã từng ở VN lâu rồi và biết hết , biết hết…biết những phong tục tập qúan của người địa phương và phải đọc được ý tưởng của họ bằng cách là “Walk inside their stomach” .Tạm dịch là “Đi trong bụng họ”. Ông Captain Brian nói , tôi có học xong khoá tiếng Việt sắp được gởi qua VN thì nghị-định hoà-bình Balê ký kết thành vụ qua VN của đơn-vị tôi bị bải bỏ , nếu không thì giờ này chắc có tên tôi trên bức tường đá đen của đài tưởng niện các GI bõ mình tại South East Asia rồi. Gặp you lần đầu tiên tôi thí nghiệm thử mà coi bộ có ép phê phải không ? .Tôi nghe ổng nói vậy nên giơ tay đầu hàng…
Năm ngoái tôi đến phi trường Roanoke của tiểu ban Virginia , phi trường này nằm trong vùng núi , phong cảnh núi non rất hùng vỹ, riêng cái Terminal của phi-trường này cũng rất là đẹp , tôi cứ nghĩ thầm không biết chừng nào xứ sở của tôi bên VN mới có được một cái Terminal tân kỳ đẹp đẽ và đầy đủ tiện nghi được như vầy , dù đây chỉ là một địa danh khỉ ho cò gáy , ít ai biết tới!.Phi hành đoàn của tụi tôi nghỉ lại thành phố này một ngày , hôm sau 11 giờ sáng tụi tôi phải có mặt tại phi-trừơng khoảng một giờ trước khi cất cánh , hôm đó chiếc phi cơ mà tụi tôi sẽ dùng tiếp tục phi-vụ tới trể nên tụi tôi ngồi chờ bên trong chổ cổng đậu phi-cơ lâu hơn thường lệ , Pilot đi bay thì ai cũng có một va li nhỏ đựng quần áo và cái cặp bay phi-hành màu đen , riêng cái cặp bay của tôi thì hai bên hông có dán cái 2 phù hiệu màu , một của hảng Airline cũ của tôi và kế bên dưới là phù hiệu “Tổ Quốc Không Gian “ in trên giấy láng , do ngài Thiếu tá Navy Lê Hưng tặng tôi cách đây trên muời mấy năm…Tôi để mấy món lỉnh kỉnh này tại gần cổng rồi bước lại chỗ quầy vé chech-in để đọc tin tức khí tượng trong computer. Trong lúc tôi chờ có chổ trống để nhãy vô xem tin tức khí tượng , tôi vô tình nhìn lại chỗ tôi để mấy món đồ lỉnh kỉnh kia , thì thấy có một người đàn ông Mỹ khoảng ngoài 60 , ông ta quì xuống cúi nhìn bên hông cái cặp bay của tôi . Chặp sau ông lại quì xuống quan sát một lần nửa thật lâu , rồi ông nhìn dáo dác như muốn tìm xem ai là chủ của cái cặp đen này. Chừng 5 phút sau tôi bước lại gần thì ông Mỹ này biết là đồ của tôi . Ông không hỏi cũng không chào tôi tiếng nào nhưng chỉ vào bên hông cái cặp đen và nói “ That’s my Unit “ . Tôi hỏi ủa bộ ông hồi đó có làm cho hảng Airlines cũ này hả ?.Ong nói không phải, cái sticker phía bên dưới kia kìa . Tôi hơn bối rối sợ ông già lẩm cẩm này ngó lầm, tôi nói nhưng mà cái sticker phía bên dưới là của South Vietnamese Air Force mà . Ông nói “Yes ,That’s my Unit “ (Đúng , đó là đơn vị của tôi) . Tôi nói chắc ông già Mỹ này ngó lộn rồi , tuy nhiên tôi cũng ôn tồn hỏi ổng :Bộ hồi đó ông là lính KQ của VNAF hả ? Ông trả lời: Yes , all most 3 years from 1966 to 1969. Tôi nghe ông nói mà trong bụng cứ nghĩ chắc cha già này lảng trí nặng rồi , chớ Mỹ nào hồi đó mà đi lính KQ Việt Nam ? .Tôi chưa kịp nghĩ gì thêm thì ông già Mỹ này nói : You có biết không , hồi xưa KQ của you lúc mới nhận viện trợ mấy chiếc AC-47 của phi đoàn 817 tại Tân Sơn nhứt , tôi là huấn-luyện-viên bảo trì của loại này , nên tôi biết cái sticker này là của đơn vị tôi.. nghe ông Mỹ này nói bao nhiêu đó nên tôi mới hiểu .Hẳn quí vị còn nhớ hồi xưa các cố vấn Mỹ làm việc chung trong KQ mình , mấy ông đó rất thích mang cái phù Hiệu Tổ Quốc Không Gian trên túi áo . Vì vậy nên ông Mỹ này lâu ngày ông cứ nghĩ đó là cái phù hiệu của Phi-đoàn Hỏa-long mà ông đã từng làm cố vấn, chớ ông không biết đó là phù hiệu chung của KQ Việt Nam.Sau đó ông xổ cho tôi nghe một tràng những biến cố hồi Tết Mậu thân lúc ông còn đồn trú tại Tân Sơn Nhứt , ông nói xém nửa là bị ăn đạn B-40 của mấy tên VC bắn vào Phi-trường , ông nói còn nhớ có một ông Base Commander của 33 Wings , cao cấp trong KQ bị tữ nạn ngoài hàng rào phòng thủ gần French Cementery..(Cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương ). Nghe ông già Mỹ nói vậy tôi mới biết mình lầm to , ông già Mỹ này không lãng trí như tôi nghĩ , vì đã mấy chục năm mà ông vẫn còn nhớ từng chi tiếc nhỏ lớn…
Tôi hỏi phải ông chút nửa bay chuyến bay của tôi về Charlotte phải không ? Ông nói không, chỉ ra đưa người con gái lớn về Michigan , sẽ đi trong chuyến bay của tôi , còn ông thì nhà cửa ở tận trong vùng núi nhà quê cách đây chừng 2 giờ lái xe , về hưu ở đó xa đô thị cho đỡ ồn ào….
Thưa quí vị đọc giả quí mến, tôi xin phép được tạm dừng ở đây. Mặc dù trong các phi-vụ hằng ngày tôi có gặp rất nhiều chuyện ly-kỳ và hấp dẫn khác nữa nhưng không tiện viết ra đây… Đành xin hẹn kỳ khác vậy…. nếu bịnh làm biếng của tôi không tái phát.! (9/97)

Pilot Lăng cha cả.
THURSDAY, MARCH 28, 2013

Vui buồn đời bay bổng II.
“…. Mặc dù trong các phi-vụ hàng tuần tôi vẫn gặp nhiều chuyện ly-kỳ nhưng không tiện”diết” ra đây…Đành xin hẹn kỳ khác vậy, nếu bịnh làm biếng của tôi không tái phát.!” (tháng 10/97).
Để mở đầu bài viết này, tôi tạm mượn phần kết của bài “Vui buồn đời bay bay bổng” tôi đã viết đúng 10 năm trước đã được đăng trong báo Lý-tưởng Không-quân phát hành tháng 2 năm 1998…
Tuy rằng bịnh làm biếng vẫn còn day dưa trong người, tôi chỉ xin ráng cố gắng viết lại ba cái chuyện xe cán chó, chó cán xe, chuyện trên trời dưới đất đã xảy ra cho tôi trong suốt cuộc đời bay bổng của mình, dĩ nhiên là nhiều chuyện xãy ra trong đời phi-công 20 năm lái phản-lực chở hành khách dân sự, 3 năm làm tài xế 727 cho hảng Cargo UPS và 5 năm lái máy bay 2 động cơ, cộng 1 năm làm huấn luyện viên Pilot cho hảng Cessna bên Mỹ này, nhiều hơn là hồi bay trong VNAF chỉ có 4 năm 4 tháng.!
**********
Tôi gặp (cố) Đại-tá Đặng duy Lạc trong đêm Không Gian tại Houston tháng 11 năm 1995 và lần đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp ông! Những lần trước gặp ổng thì chỉ chào hỏi qua loa và hỏi thăm về ông anh lớn của tôi sao không bao giờ thấy anh tôi bên Cali về đây dự Đêm Không Gian? Kỳ này thì ông đứng nói chuyện lâu hơn, tôi nhớ ông nói: mấy bài của mày viết tao đọc thích lắm, mà mày nhớ là ráng viết về những người bạn mình thì rất quí còn viết nhiều về mình thì đôi khi làm cho người đọc tưởng mình tự cao, tự đại hoặc khoe khoang… tao biết mày gốc Nam kỳ có gì mày nói nấy nên tao chỉ góp ý cho mày nghe vậy thôi. Ráng viết nhiều nửa nghen, mấy bài mày viết về chuyện bay bổng của mày làm tao cũng nhớ bay lắm..!
Lần đó có rất nhiều anh em Pilot của các phi-đoàn A-37 ngoài Nha-trang/Phan-Rang cùng mời ông Lạc chụp hình chung với họ, ổng nói với tôi là tụi nó về đông quá tao hỏng biết mặt mũi của mấy thằng nhỏ sau này.
Nhiều anh em trẻ bên A-37 đứng gần nghe ổng nói chuyện mà xưng tao và gọi tôi bằng mày thì họ cũng hơi thắc mắc, bởi vì rất ít người biết tôi, sao tự nhiêu bửa nay thấy tôi đâu lạ hoắc tới dự mà lại nghe ông Đ/t Lạc gọi tôi bằng mày và xưng tao rất là thân mật ?.
Tôi biết Đ/t Lạc lúc ông còn là Đ/u. Phi-đoàn trưởng 524, thuở đó tôi còn học trung học đệ nhứt cấp trường Kỹ Thuật gần Cầu Đá Nha-trang, ông anh lớn của tôi là Th/u “Minh Sói” khóa 63D là thuộc cấp của Đ/u Lạc (Bạn bè đặt cho tên cúng cơm vì anh tôi hơi sói đầu), bay trong phi-đoàn A-1 Skyraider này, cuối năm 1967 khi đi học A-37 khóa đầu tiên thì anh tôi cũng đi chung với Th/t Lạc. Hơn nửa Đ/t Lạc lúc ở Nha-Trang cũng biết anh tôi là con của ông Mục-sư làm giáo-sư ở trường Thần Học Tin-Lành bên Hòn Chồng nên ổng cũng có phần cảm mến anh tôi vì nếp sông đạo đạo đức của anh. (Cũng vì vậy mà các VNAF ngoài Nha-trang có khi gọi chọc anh tôi là Mục-sư Tuyên úy). Vì tình thầy trò nên khi Đ/t Lạc lên làm Không-đoàn-Trưởng KĐ 62 thì ông kéo anh tôi lên làm Trưởng phòng huấn luyện của không-đoàn. Còn tôi chỉ là phận tép tiêu em út nên có phần ké vô trỏng vậy thôi.
Bây giờ ngồi đây viết lại ba chuyện “dui buồn” này mà kiếm người khác bạn mình để viết thì cũng hơi khó, vì nó chỉ xãy ra hay do chính tôi chứng kiến, còn KQ mình bên cánh quạt (fixwing) đâu có bao nhiêu người qua đây còn đi bay lại ? (3 ông già kia thì cũng đã retired mấy năm trước rồi). Ngoại trừ hiện nay trong VNAF chỉ còn lại đúng 3 anh em còn trẻ bên A-37 là các cựu Th/u VNAF “Trẻ” (Mấy trự này cũng đều đã trên 5.5+ bó rồi!) như Th/u Nguyễn-Châu-Phòng (Khóa 72A) Captain bay MD-11F cho UPS, Lê-Hưng (Khóa 72) Captain bay phản-lực Hawker cho 1 công ty tư nhân bên vùng Ấn-Độ và Nguyễn-chu-Mon Captain bay phản-lực Challenger tư cho một nhà băng lớn bên Oklahoma, vài năm nữa thì 3 anh em này cũng sẽ giống như tôi. Tôi viết vậy bởi vì thế hệ “trẻ” (baby boomer nay chỉ trước sau 1,2 năm thì đã ôm 6 bó rồi) của tôi coi vậy mà đã hết thời rồi, cuối tháng 12/2006 tôi cũng đã chính thức “ rì tai” bên Airlines sau 20* năm bay cho hảng US Airways (* 3 năm cuối ngồi chơi xơi nước, lảnh lương và hưởng đủ mọi quyền lợi của 1 Pilot vì Medical !)
Theo luật định hiện hành của chính phủ thì tất cả các Airline Pilot (chở hành khách hay cargo) đúng 11:59 phút EST của ngày sinh nhật 60 bắt buột phải retire! Theo luật mới thì Pilot sẽ retire ở tuổi 65 nhưng đến năm 2009 mới áp dụng; Nếu hảng nào còn xữ dụng các loại phản lực cũ như Boeing 727 hay 747-200 cần Flight Engineer (Cơ-Phi) thì các Pilot này có thể xin xuống (down grade) làm một cơ-phi nếu có chỗ trống và không bị giới hạn bởi hạn tuổi 60/65 nếu vị Pilot/Cơ-phi này vẫn hội đủ điều kiện sức khỏe. Lương hướng bị cắt giảm rất nhiều nhưng khoảng thâm niên với hảng vẫn tiếp tục cho đến khi vị Cơ-Phi/Pilot “Già” này chịu retire…
Dù biết 3 ông đàn em kia vẫn còn đi bay và mấy ỗng có riêng mấy chuyện dui buồn của mấy ổng tui đâu có biết được để mà viết về mấy ổng? Thôi thì tôi đành phải viết mấy chuyện dui buồn của đời bay bổng của mình vậy.! Nếu tôi có vô tình hay cố ý khoe khoang về tôi nhiều quá trong diễn bài này và thỉnh thoảng cũng cả gan dám mang chính sách của “Xã hội chũ nghĩa = Xạo hết chỗ nói ”xía dzô, thì xin quí đọc giả nên xem như một chuyện “bình-thường” dùm.
Trong một con số ít ỏi của vài Pilot cựu VNAF bay trong ngành hàng không bên Mỹ, xem như chỉ có một mình tôi hay viết lách khoe khoang đủ thứ chuyện, tốt cũng khoe mà xấu cũng khoe tuốt luốt… mà không sợ bị ai cùng “môn phái” phê bình, hay sửa lưng cho nên cứ ngon trớn viết tào lao, chỉ sợ quí đọc giả nghỉ là tôi thích “ Nổ” quá trớn làm mất đi danh tiếng của một thời vang bóng.!. Thôi thì nay trong bụng còn dư vài ba viên pháo “Chuột”, tôi đem ra nổ luôn một lần cho thỏa mãn .! Những chuyện trời đất tôi viết kể sau đây, chuyện bay hồi còn bên VN, chuyện bay bên Mỹ…thứ tự thời gian có thể sẽ không như ý muốn, tôi nhớ đâu viết đó.
Mấy bạn bè thân thiết của tôi nghe tôi kể chuyện bay bỗng bên xứ Mỹ này nên tụi nó xúi tôi viết bài kể cho thiên hạ nghe chơi cho dui, chết chóc ai đâu mà sợ. Thật ra tôi không sợ ai hết chỉ ngại là mình kể dỡ quá không thiên hạ nào thèm nghe thì có.
****
Ai cũng tưởng làm Captain Airline thì chắc có nhiều quyền hạn! Thưa quí đọc giả, tôi ngồi vô phòng lái đóng cửa lại lo làm phận sự của mình, chuyện gì cũng phải thi hành đúng theo sách vở, bao nhiêu chuyện rắc rối nhỏ nhặt phía sau khoang hành khách thì đã có mấy cô tiếp-viên giải quyết, chừng nào mấy cổ bó tay rồi thì mới gọi lên phòng lái hỏi phải làm sao đây?. Trên phi-cơ vấn đề giao tế nhân sự phần lớn do cô tiếp-viên trưởng nhóm giải quyết, mấy cô này có nghiệp đoàn riêng, nên có những chuyện mà tụi tôi không nhúng tay vô được, thấy mấy bả cười cười vậy đó ..nhưng lâu lâu về đến nhà thì bị văn phòng của “Chief Pilot” gọi phone hỏi thăm thì cũng hơi phiền, hồi mới vô hảng tôi cứ nghe mấy bà già thâm niên kể cho tụi tôi nghe về mấy ông Captain già khó tính, mấy bả nói :”Mấy thằng Captain cứ tưởng tụi nó là “ông trời”. (They think they are God..!) thật ra là mấy bả muốn dằn mặt tụi tôi trước để sau này có lên cấp thì liệu hồn. Ai làm phận sự nấy, đụng vô mấy cô này phiền nhiễu lắm.
Hồi trước thì thỉnh thoảng có nhân viên an-ninh hàng-không “chìm” (air-marshall) đi theo, sau vụ 911 thì số an ninh chìm đi theo thường xuyên hơn trên các chặn đường bay dài, mấy ông này cũng có thể ra tay khi cần, khi lên máy bay thì mấy ổng đưa thẻ và giấy tờ trình cho tụi tôi biết ông ngồi ghế số mấy, thường thì hay ngồi phí sau cùng để dễ quan sát. Captain thì chẳng có quyền đuổi ai xuống khỏi máy bay hay cho phép ai đi, chỉ trừ ra các Pilot hay nhân viên FAA của chính phủ xin quá giang, hay khi phía sau ghế hành khách không còn chỗ trống cho mấy vị này.
Bên mình hồi đó ai làm tới chức Trưởng Phi-cơ thì coi mình như ông trời con, như dua một cõi và quyền hạn thì “Dzô biên” … và có khi cũng hơi “dzô diên”!
Hồi năm 1974 tôi thường bay ra đảo Côn-Sơn một tháng 2 lần, trong số hành khách tôi để ý có 2 vợ chồng thường dân bay đi bay về rất thường xuyên, tò mò nên một hôm tôi hỏi ông chồng là ông bà làm gì ngoài này mà tôi thấy sao siêng năng đi ra đây thường quá? Được ông ấy trả lời là: ”tôi làm thư-ký của tòa tỉnh Gia-định nên phải ra đây lo ba cái giấy tờ cho tỉnh, vì Đảo Côn-Sơn này nền hành-chánh trực thuộc tỉnh Gia-định nên vợ chồng tôi được biệt phái ra làm việc ở đây, Thiếu úy nghĩ coi ai mà muốn đóng đô dài hạn ở đảo này !” À, thì đi một ngày học được một sàng khôn, hiểu thêm chút đỉnh về cơ cấu hành chánh của xứ mình. Rồi cũng trong phi-vụ Tân sơn nhứt-Côn Sơn -Tân sơn Nhứt này vị trưởng phi-cơ khả ái của tôi là ông Đ/u Tô tiến Đạt có hỗn danh là Đạt “Ống nhổ” (khóa 65A cùng khóa với Trần-thế-Vinh và Lý-Tống). Năm 1987-89 tôi thường bay ghé phi-trường Orlando 2,3 lần mổi tuần, tôi vẫn thường gọi phone thăm (cố) Chuẫn-tướng Phan-Phụng-Tiên và anh Đ/u Đạt, anh Th/t Vinh Ốm anh Đ/uTâm Già, anh Đ/u Thuyên. Hôm đó tôi gọi phone tính tán dóc với anh Đạt thì gặp ông già dzợ của anh Đạt bắt phone, ông cũng là Mục-sư nên tôi phải ăn nói lễ phép, ông trả lời với một giọng trung kỳ 100/100 ông nói:
– Cái thèn Đoạt bửa ni hén đi công toác ở chỗ mô nớ, chiều ni hén mới về, rồi ông cũng hỏi thăm về ba má tôi bên Cali, một hồi lâu nói đũ thứ chuyện thì không biết trong câu chuyện có gì mà ông nói:
– Chu choa cái thèn Đọat nhòa tui hén nóa dữ lém! Không uai nóa lại vơí hắn mô !. Rồi sẵn đó tôi hỏi bác biết hồi xưa trong KQ người ta gọi anh Đạt là gì không? Người ta đặc cho ảnh cái tên cúng cơm là Đạt ống nhổ, tôi nghe trong đầu dây bên kia ông nói:
– Chu choa ai mà đẹt cho hén cái tên chi nghe ót (ác) sao mà ót dữ rứa con !?.
Ông Đ/u Đạt này thì tuy mặt mày trông lúc nào cũng nghiêm nghị và kỹ luật lắm, hồi xưa ổng làm phụ tá sỹ-quan hành quân của phi-đoàn, mấy ông Th/u mới về phi đoàn, ông nào ông nấy sợ ổng như sợ cọp, thấy ổng là tụi nó né ra một bên, nhưng thật ra ổng đối xữ đàng hoàng và rất tốt bụng với các đàn em, dòm thấy mặt ổng ngầu vậy chớ một hồi rồi cũng cười hề hề, nói chuyện thường hay pha trò và có tài chọc quê thiên hạ vui lắm.. Nhứt là vô mấy cái đám cưới quen, ổng hát chọc quê cô dâu chú rễ mỗi khi đi ngang qua bàn, rồi đến chọc quê ông bà bố mẹ của cả hai bên, vui còn hơn là MC chính nửa! .Tôi biết rõ vì ổng thường cắt tôi bay chung với ổng. Chị ruột của ổng là vợ của Tr/T Lâm Quang Thi nên mỗi lần mang bà lớn đi đi về về từ vùng I, những lần đi bay như vầy thì tôi hay né đi chỗ khác để khỏi phải chào kính mặt trời.
Những năm trước thì đi dự Đêm Không gian bên Houston tôi vẫn thường thấy ổng đi 2 người nên ổng ít diễu một tý thôi vì có “Bà” đi bên cạnh, dạo sau này không biết cái rờ mọt của ổng bị xẹp bánh nằm trên xa lộ nào mà bay giờ chỉ thấy ổng đi có một mình, mỗi lần thấy bạn cũ thì ông này hay cười cười diễu giỡn 1 câu lục bát bằng giọng bắc kỳ chữ dê (d) mà tôi nhớ hoài :
“ Dĩ dãng dễ dì dấu diếm” .!
Hồi xưa bên nhà thì còn nể nang vì quyền uy, cấp bực, sợ bị “đì”. Qua đây phương tiện truyền thông quá tân tiến nên hồi xưa, hay hồi nay có chuyện gì bí mật nay bị bật mí hết nên “dấu diếm” gì được.!
Sau khi đáp Côn Sơn tôi ra ngoài xem thiên hạ xuống khỏi phi-cơ và xem hành khách mới, trở về Sài gòn, trong đám hành khách này có một thằng bé khoảng 12 tuổi, trên tay nó ôm một con khỉ con rất nhỏ ngồi lọt trong lòng bàn tay, tôi lại gần chìa tay vuốt ve con khỉ con này trông rất dễ thương, nó cũng làm cho tôi nhớ lại hồi học lớp đệ lục tại Nha trang tôi đã từng nuôi một chú khỉ nhỏ như con khỉ này, sau này khỉ con lớn lên tôi bắt gặp nó trèo qua nhà hàng xóm, leo vô chuồng gà đang ấp ăn cắp trứng gà ôm chạy về, tôi phải đem cho người bạn ở ngoài Xóm Bóng, vì sợ lâu ngày bị vạ lây.
Đến giờ hành khách sắp hàng lên phi-cơ, đi bằng cửa trước của C-130 cho dễ kiểm soát, vì lý do an ninh nên các cửa sau đều đóng lại. Khoảng chừng 20 hành khách về Sài gòn trong đó có thằng bé 12 tuổi này đang tươi cười hí hửng cầm con khỉ bước lên phi-cơ thì Ngài Trưởng Phi-cơ khả ái của tôi chỉ vào con khỉ nhỏ nói: con khỉ này ở lại, nó không có tên trong danh sách manifest thì không được đi …
Mặt thằng nhỏ đang hí ha hí hững ôm con khỉ leo lên cầu thang máy bay đột nhiên trở thành buồn xo, trông thấy mà tội nghiệp. Bị một ông Đ/u trưởng phi-cơ lái một chiếc máy bay vỹ-đại phán một câu ra lửa, hỏi thằng con nít nào mà không khiếp vía! Nó nhìn dáo dát tìm cách giải quyết vụ con khỉ này vì nó không biết phải giao lại cho ai đây. Ba má nó bước lên phi-cơ trước nó lo tìm chỗ ngồi nên không biết chuyện thằng bé đang gặp vụ rắc rối này. Nó lên sau ba má nó vì phải đợi kêu tên theo thứ tự ABC. Người trưởng trạm thì chỉ biết đứng nhe răng cười, cuối cùng thì nó chạy lại đàng hàng rào kẽm gai cột đại con khỉ con vô đó xong chạy trở lại bước lên máy bay tìm chổ của bá má nó.
Sau khi cất cánh ở Côn-sơn về lại Sài gòn, giửa đường tôi hỏi Đ/u Đạt sao ông khó quá vậy ông, tui thấy tội nghiệp thằng nhỏ phải bỏ con khỉ lại. Ổng trả lời:
– chớ tao cho con khỉ đi, rủi giửa đường nó nổi cơn điên chạy cắn hành khách rồi tao bị ký củ dzô ngồi tù sao.?
Nói tới chuyện điên thì tôi nhớ tới 1 phi-vụ bay từ Ban Mê Thuột về Sàigòn, trong phi- vụ-lệnh ghi : Chở 36 thương bệnh binh bị bệnh “tâm trí”. Hồi đó tôi còn bay C-123, vị trưởng phi cơ là Tr/u Phan-văn-Tề (Khóa 66). Ổng nói: ê Khiêm anh lo cho mấy ông lính điên này lên phi-cơ dùm tui, tui chạy vô trong trạm kiếm mua mấy ký Cà Phê Ban-Mê-Thuộc về đặng “biếu” cho ông già dzợ tui .(Rễ KQ có hiếu với ông gìa dzợ như vậy là nhứt rồi. Còn ông già ruột của ổng chắc hỏng có ký nào ?)
Tôi hỏi ông Đ/u Quân-y đi theo áp tải mấy ông lính này về TSN: Đ/u làm ơn cho ông nào điên nặng nhứt lên phi-cơ trước rồi mấy ông nhẹ nhẹ cho lên sau. Nhìn mấy ông lính này tôi không thấy mấy ổng điên chỗ nào, hay có những hành động gì đáng sợ cả, lâu lâu thì có thấy mấy ông cứ nhe răng cười cười vu vơ, nhìn trời ngó đất.
Đáng lẽ vụ này tôi để cho ông áp tãi của tôi làm, nhưng muốn chắc ăn, tôi cột và xiết seat belt thật chặt cho ông điên nặng nhứt vô ghế, lộn ngược mặt trái của mặt seat belt rồi nhét dấu đầu dây bên kia xuống dưới ghế, vì tôi nghĩ già này điên số một nên chắc giả không biết mở seat belt !. Rồi tôi bước nhanh ra đàng sau cửa ramp để nói họ đem ông thứ hai lên tàu, tôi vừa đứng ngay cửa ramp chưa kịp nói “cho ông thứ nhì lên đi”, thì tôi cảm thấy có cái gì ấm ấm phía sau lưng, quay lại thì thấy ông điên số 1 mà tôi mới cột vô ghế đã đứng ngay sau lưng tôi rồi! Ổng nhìn tôi nhe răng cười, rồi tôi nghe ổng nói: Th/u sao đẹp chai quá Th/u? Cái đám lính ”điên” đang đứng sắp hàng sau đuôi máy bay 3,4 mang nghe vậy cũng nói hùa theo với nhiều giọng có âm điệu khác nhau “… ừa phải dồi Th/u đẹp chai wá…”. Hai ông áp tãi đứng đó nghe bụm miệng cười thoải mái.
Thú thật với quí đọc giả, phi-cơ còn nằm dưới đất mà hồn vía tôi lúc đó chưa đầy 1 giây đã cất cánh tới 9,10 ngàn bộ rồi ! Rốt cục rồi tụi tôi cũng đã chở mấy ông lính điên này về tới TSN an toàn.
Đến đầu năm 1973 thì tôi đã chuyển sang bay C-130, trong những phi-vụ trao trả tù binh theo hiệp định Paris bay từ Biên-Hòa sang phi-trường Lộc Ninh, trước đó mấy ngày thì (cố) Tr/t Nguyễn-Tấn-Châu ( tức Châu Do-thái) đã đáp để thám sát an-phi cho phi-trường Lộc Ninh xem thử có an toàn cho C-130 Đáp hay không. Khi về tôi nghe ổng nói bên KQ mình ra lịnh là không có được ăn uống bất cứ thứ gì của tụi VC mang ra đải, bên bộ binh thấy mấy giả ngồi ăn đồ của tụi nó dọn ra tỉnh queo, nào chôm chôm, nào sầu riêng… còn phi hành đoàn mình thì ngồi dưới cánh máy bay khui mấy hộp ration “C” đồ của đế wuốc ra ăn.!
Tôi không biết những toán tù binh VC này từ đâu tới, hay từ Phú-quốc đưa về đây bằng tiện nào? Tôi chỉ thấy từng toán 60 người ngồi xếp hàng trên thềm xi-măng tại khu cargo phía đông phi-trường Biên-hòa. Tất cả đều mặc bộ áo tù màu nâu do chính-phủ cấp phát, và ngoài ra mỗi một người còn được phát cho một bộ quần áo mới cũng màu nâu, một ổ bánh mì lớn và một gói đường nhỏ.
4 chiếc C-130 của VNAF thay phiên nhau chuyên chở các toán này. Trong khi chờ đợi tôi quan sát thấy nếu trong toán đó không ai nói gì thì họ sắp hàng lên máy bay mang theo đầy đủ 3 thứ đó. Còn có toán thì khi đứng dậy họ bỏ lại bộ quần áo nhưng đen theo ổ bánh mì và gói đường, rồi có toán chỉ mang theo gói đường nhưng bỏ lại bộ quần áo và ổ bánh mì, và có toán đứng dậy bỏ lại tất cả, chắc đây là những thứ gộc nên không xữ dụng bất cứ thứ gì của chính-quyền “Mỹ Ngụy”.
Tôi bay các phi-vụ này được 3 ngày, mỗi ngày cất cánh và đáp Lộc-ninh 3 lần. Ngày đầu tôi bay với Th/t Khưu Thái Bình ( Khóa 63) trên chiếc C-130 của Phi-đoàn 435 có số đuôi 518 và 3 chữ sơn trắng bên trên lá cờ Việt Nam là chữ HCM ( danh số thuật ngữ của phi đoàn 435 bắt đầu bằng chữ HC.. rồi theo thứ tự Alfa Beta như HCA, HCB…và đến chiếc thứ 16 cuối cùng là HCP, nên HCM nằm lọt trong đám chữ này, còn bên phi đoàn 437 thì bắt đầu bằng 2 chử GZ..).Vì vậy khi ngày đầu tụi tôi đáp ở Lộc Ninh thì mấy chú Vẹm loại gộc ra phi-trường đón tụi tôi, chỗ trại tiếp tân là cái terminal cũ, chỉ có mái che không có tường hay phòng ốc gì cả, ngoài mấy cái bàn của ban liên-hợp 4 bên ngồi để dưới trại cách chỗ phi-hành-đoàn ngồi nghỉ chờ đợi khoảng 10 thước. Tụi này phải chờ để sau khi ban liên hợp hỏi từng người ai muốn về với “Mặt trận giải phóng “ thì bước sang bên kia, ai muốn về với Chính-phủ quốc-gia thì bước sang bên này làm giấy tờ rồi trở lại máy bay để tụi tôi chở về Biên-Hòa. Trong lúc ngồi chờ đợi thì tôi nghe có mấy ông vẹm chỉ lên chữ HCM của đuôi máy bay nói : Tên của cụ Hồ chí Minh đấy mấy đồng chí ơi ! Tôi đứng phía trong nhà chờ đợi la lớn:
Không phãi vậy đâu ông ơi, 3 chữ đó là “ Hôi Cứt Mèo “!Mấy anh đừng có phịa hồ chí gì rồi la ó cho mệt!. Th/t Bình ngó tôi cười, coi bô thằng co-pilot của ông nói một câu nghe được, ổng nháy nháy mắt nói: ê bộ Th/u Khiêm không sợ mấy thằng VC này làm thịt hả?. Trong trạm chờ thì cũng có mấy phi-hành đoàn trực-thăng của VNAF bay cho ban liên-hợp nếu tôi không lầm (?) ! . Có một ông già VC ngồi đó mời tụi tôi uống nước trà, ông người miền Nam nên tôi nghe ông nói: “ Mời mấy Thầy dùng nước trà”, tôi không nhớ thằng áp tải hay cơ phi gì của tôi nó nói:
-mà nước trà này mấy ông bỏ thuốc độc dô, ông dụ tụi tui uống vào chết dại hết sao?. Ông già vẫn ngồi điềm nhiên, mặt lạnh như tiềng. Một lúc sau tôi lại nghe ổng nói:
– mấy Thầy biết không, ở đây không có cái gì của Mỹ hết !
Tôi nghe ông Đ/u trực-thăng người Bắc tôi không nhớ tên, ổng liền lên tiếng, dường như ông này là sỹ-quan chiến tranh chính-trị của phi-đoàn nên tôi nghe ổng phát ngôn có nét lắm :
-Thôi đi cụ, hả cái mồn ra là tuyên truyền!
Rồi ổng chỉ ra phi-đạo bằng vỹ-sắt nói :
– Cái vỹ sắt của phi-trường này là của Đảng và Bác làm chắc ?. Còn cái đinh đóng ở cái trạm này cũng cũng của Đảng làm ra luôn?. Tôi nói cho bác nghe nhá; cái vỹ sắt kia là của Mỹ, cái đinh đóng vô cái terminal này, cái mái nhà này cũng là của Mỹ nốt! Chỉ có cái mồm thối của bác là không phải của Mỹ thôi. (tui nhớ 99% nguyên văn)
Phi-trường Lộc-ninh này hồi xưa là căn cứ của Bộ-binh Mỹ, cái terminal do hảng thầu RMK xây nên vẫn còn tốt, đầu năm 1971 khi tôi mới về nước, được huấn luyệân trên C-123K chung với USAF, tôi đã đáp ở phi-trường Lộc-Ninh này được 4 lần, nay 2 năm sau lại được trở lại phi-trường này trên VNAF C-130. Tôi quan sát trong cái bọn cán binh VC chạy tới lui lo trật tự hay làm “do thám” đọc tên tuổi của đám pilots ngụy này, trên ngực tên nào cũng có mang ảnh tượng nhỏ bằng đồng của mister Hồ, đứa nào không có thì tôi thấy mấy giả xõ hình trắng đen cũa cụ Hồ cở hình thẻ kiểm tra vô kim băng rồi mang trên ngực ra điều hãnh diện lắm.
Chở vô Lộc-Ninh thì 60 tù binh mỗi chuyến nhưng chở về thì rất ít, khi toán hồi-chánh về lại Biên-hòa thì có nhóm người bên khối Dân-vận Chiêu Hồi ra đón tiếp với các vòng hoa, biểu ngữ như “Hoan nghênh các bạn đã trở về với chính nghĩa quốc gia”.v.v..
Buổi chiều hôm sau khi chờ tới phiên bay chuyến thứ 3 trong ngày tại Biên-Hòa tôi thấy có khoảng 2 xe GMC chở một nhóm người rất trẻ khoảng 4,5 chục mạng, phía nữ mặc đồ bà ba trắng, nam cũng mặc áo sơ mi trắng, khi toán này xếp hàng ngồi ngay ngắn, có một người đi tới đi lui để ra lệnh hay đốc thúc trật tự cho nhóm, tôi tò mò bước đến gần đễ hỏi xem nhóm người này là ai, thì được một người bạn cùng khóa quân sự với tôi 9 tuần Quang-Trung, ông này bây giờ là Tr/u Quân-pháp nói đây là nhóm sinh-viên, học sinh chuyên môn đi biểu tình, phá rối trị an và họ tự cho họ là “Thành phần thứ ba” có cảm tình hay thân cộng nên bị bắt và giờ thì đòi lên Lộc-Ninh để giải quyết và bày tỏ lập-trường của họ. Người trưởng toán của đám này khi tôi tiến lại gần đọc được bản tên gắn trên ngực áo bằng plastic, khắc trên nền xanh lợt chữ trắng : Vũ Ngọc Nhạ. Chắc một số quí đọc giả còn nhớ, tên này làm cố vấn an-ninh cho Tổng-Thống Thiệu, sau bị lộ ra là của Cộng sản gài vào tận Phủ Tổng-thống và còn được làm cố vấn an ninh cho phía quốc gia. (năm 2005 tôi có xem được tờ báo nào đó trên internet nói là tên Vũ ngọc Nhạ 78 tuổi đã chết !).
Thằng bạn này thấy tôi lái C-130 thì hỏi, mày có con ông cháu cha hay sao mà được bay cái thứ này? À mà sao mày đi lính một lần với tao mà bây giờ vẫn còn mang lon Thiếu úy ? ( Tôi chính-thức được lên lon Tr/u tháng 10 năm 1974). Bộ mày ba gai lắm hả ? Tôi nói con ông cháu cha cái con khỉ gì . Tao học xong Pilot bên Mỹ họ hỏi tao muốn chọn bay thứ gì, khóa của tao học là khóa đầu tiên cho hoa-tiêu đi học A-37 sau khi xong huấn luyện bên T-28, tao không muốn lái máy bay nhào lộn nên tao chọn vận-tãi, Không quân có thứ gì cho mình học thì mình bay thứ đó, và hy vọng chính của tao là để được sang bay cho Air Việt Nam sau này. Nó đâu biết là tôi chỉ học quân sự 9 tuần ở Quang Trung rồi sang Thủ đức thêm 4 tuần sau khi gắn Alfa, Không quân lảnh về cho đi học Anh văn rồi du-học Mỹ 1 năm thành Pilot về nhà là ra đi hành quân luôn. Toán đầu tiên 8 thằng co-pilot, 6 tên còn mang Alfa lúc nhận C-123K khi Mỹ chuyễn giao đầu năm 71, đâu có ai bay thế để mà tụi tôi đi học bổ túc quân-sự giai đoạn 2 ? Thành thử bên sư-đoàn cho tụi tui được mang lon Thiếu úy, thẻ căn cước và chứng chỉ tại ngủ ghi Thiếu úy nhưng ăn lương trung-sỹ dài hạn. Hơn một năm rưởi sau (8/1972) bên sư-đoàn làm báo cáo lên Bộ Tổng Tham Mưu là tụi tôi đã học xong giai đoạn 2 quân sự do sư đoàn tổ chức, mà thực sự từ lúc về nước là đi bay hành quân liên tù tì không có học quân-sự một ngày nào cả. Trong mấy bài viết trước tôi đã có lần nói tôi là loại “ KQ nhảy dù ! Trong đợt Việt Nam hóa: Không-Quân có khoảng 2 đại đội, sau này thành Pilot đủ loại thuộc thành phần dỡm(về quân-sự) như tôi”.
Toán người thuộc “Thành phần thứ ba “ kia gồm một số đông các nữ sinh viên coi bộ “hồ hỡi” lắm . Họ được sắp hàng lên chiếc C-130 của phi-đòan 437 do Th/t Ngô Xuân Nhựt lái. Tôi gặp Th/t Nhựt hỏi sao Th/t chở mấy cô đó tới Lộc-Ninh dzui không ? Th/t Nhựt nói dzui cái con mẹ gì, chưa ai kịp hỏi han gì ai muốn về với phía bên nào là mấy con quỉ này đã ùa chạy về với “nhân dân” cha nó rồi ! Báo hại mấy ông Canada và Nam Dương trong ban liên hợp phải rượt theo lùa đám quỉ này trở lại làm thủ tục.
Ngày cuối cùng tôi bay lên Lộc-ninh thì thấy một đám con gái mặc quần áo bà ba trắng ngày hôm qua đứng dọc bên kia bờ rào, vừa ngoắt tay khóc mếu máo nói mấy anh ơi cho tụi em về lại Saigòn đi ! Tụi tôi cười nói với nhau, mấy con khỉ này mới về với “nhân dân” có một đêm, chắc tối ngủ bị muỗi Lộc-Ninh cắn quá chịu không nổi hay là nhớ kép “ngụy” nên bửa nay lại đòi về. Có người trong đám tụi tôi chọc quê mấy cô này nói : muốn về Sàigòn thì kêu xe xích lô đạp chở về, tụi này về Biên Hòa thôi, muốn quá giang thì nhảy rào qua đây tui cõng về cho… Tụi tôi chỉ làm nhiện vụ đưa đón, đâu có quyền hạn gì mà cho mấy cô này quáù giang khơi khơi về lại Biên Hòa. Hôm qua mấy cô này đã làm giấy cam kết có ký tên là cương quyết trở về với “nhân dân” với sự chứng giám của ban liên hợp 4 bên. Bây giờ có khóc lóc cũng vô ích….
Tôi biết ba cái chuyện này đối với chúng ta hồi đó nó chả là cái thá gì cả, dĩ nhiên là trong số những Pilot C-130 hay Trực thăng đã trực tiếp bay trong các phi-vụ này thì mỗi người đều có cái nhìn khác nhau, bây giờ tôi cố moi óc viết lại không dám thêm bớt hay làm méo mó sự thật, chỉ ráng nhớ lại viết thêm chút mắm muối để nghe cho vui thôi.
Tôi chỉ bay C-123K của VNAF được đúng 2 năm và C-130 đựơc 2 năm 4 tháng nhưng cũng có nhiều kỹ niệm vui buồn đứng tim khác nhau. Mùa hè đỏ lửa năm 1972 chuyện chết sống giống như chuyện giỡi chơi. Tụi tôi bay ra Đà-nẳng 4 chiếc C123K, 2 chiếc của phi-đoàn tôi là 423 và 2 chiếc của phi-đoàn 425 trong phi-cụ tiếp tế đồn Bastone.
Đêm hôm trước tụi tôi và Tr/u Tạ-Huy-Kiệm (khóa 66) bước vô phòng hành quân của sư-đoàn 1 ngoài Đà-nẵng để nghe thuyết trình về tình hình an-ninh trên vùng Bastone, Vị Tr/t. mặc đồ bay xám tên Duệ cho gọi một ông Tr/u L-19 vào thuyết trình cho tụi tôi biết về hỏa lực phòng không của VC trên vùng đó như thế nào ? Nghe ổng nói mà tụi tôi hết muốn đi bay ngày hôm sau. Ông Đ/u Thức làm phụ tá cho biết thêm là 1 phi-hành đoàn trực-thăng bị bắn cháy, đáp vào hàng rào của đồn Baston, đã 2 tuần rồi mà bên sư-đoàn vẫn chưa lấy được xác. Cũng vào giờ phút đó tụi tôi nhận được tin 1 chiếc C-123K của phi-đoàn 425 vừa bị bắn rơi ở An Lộc, Phi-hành-đoàn không ai sống sót! (Hôm sau tôi hay được Th/t. Nguyễn-Thế-Thân là Phi-đoàn-Trưởng của phi-đoàm 425 bay phi-vụ này, co-pilot là Th/u Quách-Thành-Hải cũng là bạn học cùng khóa Pilot, và ở cùng phòng với tôi lúc học C-123K tại Locbourne AFB. Không đoàn 53 trong phi-vụ này còn mất thêm 2 ông Không-Hànhh-Viên kỳ cựu, một người là Đ/u Trọng người Bắc, vị kia là Đ/u Ngân… 2 vị này bay xác định hành quân định kỳ cho nhau, ông Th/s. cơ-phi già tên Hoành, người Bắc rất hiền từ ít nói, học chung khóa I, C-123K với tụi tôi bên Mỹ cũng đền nợ nước, trong hai ông áp tải chỉ có 1 ông sống sót và bị thương nặng đó là Th/s. Diêu-Chính-Thượng, hiện nay ông vẫn còn ở tại Việt Nam. Trong thập niên 60 ông Tr/s. Thượng lúc làm tháp-tùng-tử trên T-28 khi bay với người Mỹ bị trúng phòng không, ông đã nhảy dù sống sót một lần rồi, đây là lần thứ hai ông sống sót trong một trường hợp quá hiếm hoi khi tử thần tha chết đến 2 lần!.
Ngày hôm sau 4 chiếc C-123K của hai phi-đoàn thay phiên nhau đi thả đồ tiếp tế, phi-hành đoàn tôi đợi ngoài phi-trường để bay ca buổi chiều. Khoảng 10 giờ sáng khi Tr/u Châu Đức Tánh (Khóa 66) của phi-đoàn 425 bay chuyến đầu trở về, khi đến phi-trường Đà-nẵng phải lắc cánh xin đáp vì bị phòng không bắn hư hết hệ thông vô tuyến không liên lạc được với ai cả, chuyến thứ nhì do Tr/u Hứa hồ Thanh (khóa 66) bay chung với co-pilot là Th/u Mai (Volley). Về đến bến tôi gặp thằng Mai nhảy xuống khỏi tàu, chưa kịp hỏi han gì thì nó đã thả một câu giáo đầu chưởi thề nói “ dzô đó ban ngày mà thấy tụi nó bắn lên như pháo bông…” Phi-cơ lủng bao nhiêu lổ thì tôi không biết, vì loại C-123K thì thân hình mập và chậm chạp như con cá voi, dễ làm mục tiêu cho phòng không. Tôi không biết khoảng thời gian giữa lúc hai chiếc trước thả dù và tới phiên tụi tôi buổi chiều thì các phi-tuần A-37 có lên làm việc ở vùng đó hay không? Vì đến buổi chiều khoảng 3 giờ thì chiếc của Tr/u Kiệm và tôi bay cao độ 3 ngàn bộ vô Bastone theo sau là 1 chiếc C-123K nửa của Phi-đoàn 425 bay cao độ nào tôi không rõ. Tôi hỏi Tr/u Kiệm sao mà bay thấp dữ vậy, ông nói nửa giỡn nửa thiệt “tao điếc đâu có sợ súng”. Tôi nhìn thấy rõ đồn Bastone trước mặt. (cố)Th/t Trần Văn Triều là Navigator cho lệnh thả sớm hay trể tôi không nhớ nhưng sau khi thả xong 4 pallet hàng Tr/u Kiệm lại cho phi cơ bay lên khoảng 8 ngàn bộ rồi còn bay vòng trên vùng đó gọi chỉ cho chiếc số 2 vô thả. Tôi không còn nhớ nhiều bởi vì lúc đó đầu óc tôi chỉ nghĩ tới phòng không và chỉ chờ để nghe bị trúng đạn. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao 2 chiếc C-123K vô thả dù buổi chiều, một chiếc bay thật thấp lại không bị trúng một viên phòng không nào cả?!Hay là bọn VC vì quá đói, đã thấy 2 chuyến ban sáng thả thực phẩm, hể không lọt vô được trong đồn thì mấy ỗng lén chui ra lượm, nên để yên cho 2 chiếc buổi chiều, đễ có thêm thực phẩm?. Về đến Đà Nẵng thì được đổ xăng để bay về TSN, chiếc nào cũng mang một số hành khách về Sàigòn, trong số hành khách thì có 2 ông Pilot trực thăng và A-37 bạn của Tr/u Kiệm, tôi nghe mấy ổng đứng nói chuyện với nhau về căn cứ Bastone, khi nghe Tr/u Kiệm nói hồi chiều nay ông bay 3 ngàn bộ vô Bastone thả dù tiếp tế, tôi nghe ông Đ/u trực thăng nói lớn:” trời đất ơi bộ mày điên sao mà bay thấp dữ dzậy, tụi tao bay 6 ngàn bộ vô vùng đó mà còn ngưởi thấy mùi Xác chết !.
Đúng một tuần lễ sau, Tr/u Tạ Huy Kiệm và nguyên phi-hành đoàn chiếc C-123K của phi-đoàn 423 đã đền nợ nước tại Cửa Việt, Quảng trị trong một phi-vụ tiếp tế cho Thủy quân Lục Chiến.
Cũng trong khoảng thời gian mùa Hè Đỏ Lữa năm 1972, trong một phi-vụ tôi bay chung với Tr/u Nguyễn-Hồng-Châu (khóa 66) và 1 chiếc C-123K nửa của Phi-đoàn 425 do Đ/u Nguyễn Hứa Chữ (khóa 64). Hai chiếc bay yểm trợ cho chiến trường Tây nguyên, tụi tôi được lệnh bay ra Qui-nhơn chở Gạo về Pleiku 3 lượt. Lần cuối đáp Pleiku đổ xăng rồi bay qua Kontum để di tản đồng bào tỵ nạn về Sàigòn, sau khi đáp Komtum phi cơ vẫn để máy nổ, ramp sau được hạ xuống để đồng bào di tản chạy lên đầy phi-cơ là đóng cửa lại rồi di chuyển ra phi-đạo cất cánh ngay. Bên quân báo đã cho hay là phi-trường Kom tum lúc bấy giờ thường xuyên bị pháo kích, do đó thời gian ở dưới đất sẽ rất ngắn, tuy nhiên 2,3 phút ở đưới đất chờ đồng bào bồng bế nhau chạy ra phi-cơ xem vậy mà lâu vô kể. Tôi ngồi trên phòng lái nhìn ra ngoài thì đếm được 3 cụm đất tung lên trước mũi phi-cơ, đất đá văng đụng vào thân phi-cơ lóc cóc… Thằng Mỹ trên đài kiểm soát không lưu vì quá thiệt thà, hay sợ tụi tôi bị ăn đạn pháo kích, nên tôi nghe nó hỏi” Romeo November ( RN là số đuôi của phi đoàn 423) did you see incoming about 20 yards from your right ?”.(Romeo November bạn có thấy đạn pháo kích rơi cách bạn 20 yards phía bên phải không?). Liền tức khắc trên tần số Tr/u Châu đã bấm máy nói “ You! Dummy, Shut up!” (nguyên văn). Bộ thằng Mỹ này tính làn “đề lô” điều chỉnh pháo binh không công cho VC hay sao đây ?. Sau đó tụi tôi ra phi-đạo cất cánh ngay, sau khi cất cánh thì Tr/u Châu gọi Tr/u Chữ bay trên chiếc XJ (X-ray Juliet) của phi-đoàn 425 trên đường từ Pleiku tới, ổng nói tụi tao mới bị ăn đạn pháo kích lúc ở đưới đất, mày cẩn thận nghe. Sau đó khoảng 5 phút Tr/u Châu nói tôi qua tần số FM hỏi xem chiếc XH đáp chưa? Tôi nghe thằng Mỹ hồi nảy trả lời là đã đáp rồi, đang di chuyển vô parking. Rồi tụi này đổi sang tần số không lưu Peacock ở Pleiku để tiếp tục bay về TSN. Về đến TSN khoảng 6:30 giờ chiều,Tr/u Châu nhờ tôi cầm phi-vụ-lệnh vô Không-đoàn nộp dùm, vì ổng có công chuyện riêng cần ra cổng gấp. Tôi đi tà tà vô Không đoàn nộp phi-vụ-lệnh, gặp thằng Th/u Đại mập và một ông Tr/u nửa bên phi-đoàn C-119 tôi không nhớ tên đang làm sỹ quan trực. Thằng Đại mập hỏi tôi, hồi nảy trên Komtum mày có bị pháo-kích không ? Tôi nói có sao không có, tao đếm được 3 trái rớt trước mặt, còn rớt chổ nào khác nửa tao đâu có biết. Rồi tôi nhìn lên bản báo cáo trên tường, chân tay tôi bủn rủn lạnh người khi đọc hàng chữ viết bằng sáp đỏ: XJ bị trúng pháo kích tại Komtum lúc 16:23 phút, phi-cơ bị phá hủy 100/100. Nhưng tôi lại cảm thấy nhẹ nhỏm người khi đọc được hàng chữ kế tiếp “ Phi-hành-đoàn Vô Sự”! Vậy tức là ngay sau khi tụi tôi đổi sang tần số UHF để liên lạc với đài Kiểm Báo Peacock tại Pleiku thì chiếc XJ này bị trúng Pháo Kích.!
Trưa ngày hôm sau khi tôi vào lại phi-đoàn cũng cùng lúc C-130 của Mỹ cũng vừa mang phi-hành đoàn của Tr/u Chữ quá gian từ Komtum về. Tôi chặn thằng Th/u Việt bạn cùng khóa Pilot lại hỏi” hồi tối mày ngủ trên đó có bị muổi KomTum cắn không ?”. Nó nói tao có thấy con muổi nào đâu, ngủ nghê cái chó gì được. B-52 nó thả bom cả đêm thả rất gần, tao nằm trong lô cốt nghe như là bị động đất, vừa điết tai, vừa tức ngực..ở đó mà ngủ hả. ( Năm 75 thằng Tr/u Trần-Tấn-Việt (Khóa 7/68) ở chung trại tỵ nạn Pendleton với tôi, vợ con nó bị kẹt lại, tội nghiệp nó nhớ con nó nên tối ngày cứ sang bồng đứa con gái 2 tuổi của tôi hôn hoài. Sau này nó ra khỏi trại tỵ nạn, đi ra ngoài làm được một thời gian ngắn tại Indianapolis, vì quá nhớ vợ con, nên nó đã ghi tên trở về VN trên tàu Việt Nam Thương Tín. Bị nhốt tại nhà Tù Nha-Trang chung với Tr/u Nguyễn-Tùng (Tùng Sữa, Khóa 8/68) bên Phi-đoàn 819. Khoảng năm 77 tôi có đọc trong báo Văn nghệ Tiền Phong thấy đăng về tin một cựu Tr/u KQ tên Việt đã tự-tử chết trong tù, và tôi cũng có nghe tin đồn miệng qua bạn bè, chuyện trớ trêu là lúc thằng Việt về lại VN trên tàu VN Thương tín thì vợ con nó cũng đã lên đường sang Pháp vì có quốc tịch Tây ! Năm 84 khi tôi đang bay B-727 cho hảng UPS đóng đô tại Louisville, Kentucky. Tôi gặp lại vợ chồng Tr/u Tùng Sửa cũng mới đi chui sang và đóng đô ở đây không lâu. Ông Tùng Sửa này nói rằng sau khi được ra khỏi tù là vợ con ông cuốn gói trốn ra khỏi nước ngay tức khắc, đi chui lọt qua đảo. Thằng Tùng Sửa có kể cho tôi nghe là trước ngày thằng Việt dự tính vượt ngục, thằng Việt đã hỏi xin Tùng một đôi giày Bata. Sau khi vượt ngục bất thành thằng Việt bị VC dợt cho mấy trận, rồi biệt giam và bị gán cho tộâi làm gián điệp cho CIA, nó quá ẩn uất nên tự tử. Hồi đó tôi cũng có đọc trong báo Tiền Phong tôi có thấy bài viết của một ông Bác-sỹ nhảy dù trong đó có một đoạn rằng lúc thằng Việt Tự tử thì ông Bác sỹ nhảy dù này cũng đã tìm cách cứu cấp cho nó. Nhưng đã quá trể. VC cũng bắt ông Bs này phải xác nhận rằng thằng Việt đã chết thiệt, rũi nó là CIA làm bộ chết gỉa, mang xác nó ra ngoài rồâi nó sống lại trốn luôn sao!)
Vài tháng trước khi được chuyển qua huấn luyện trên C-130. Trong một buổi chào cờ sáng thứ Hai tại sân cờ của Sư Đoàn 5 KQ tôi được Đ/t Đinh-Thạch-On Sư đòan phó Sư đoàn 5 KQ gắn lên ngực 1 huy chương anh Dũng bội tinh với có Ngôi sao “Vàng”, còn Đ/u Lê đình Lây (Khóa 20 Đalạt lúc đó chưa lên Th/t) là trưởng phi-cơ của phi-vụ tiếp tế cho một tiền đồn bộ-binh nằm gần biên giới Cam Bốt, thì ổng lại được cùng một huy chương nhưng với ngôi sao “Bạc”. Đó là cái huy chương duy nhất tôi được nhận lãnh trong 4 năm 4 tháng phục-vụ VNAF. Sau này tôi mới biết là tuy cùng một phi-hành-đoàn bay phi-vụ bị bắn, nhưng ông Đ/u trưởng Phi-cơ già dặn đã có nhiều huy-chương quá rồi, trên phòng nhân viên đề nghị ban cho ông co-pilot huy chương có ngôi sao Vàng để khuyến khích tinh-thần…Hai ông áp-tải hôm đó cũng được lảnh huy-chương cùng với ông Th/u Không-hành-viên, còn ông cơ-phi thì được lãnh thêm một chiến thương bội tinh, nhưng được Chuẩn-tướng Tiên, sư-đoàn-trưởng gắn tại giường bệ nh của bệnh xá KQ Tân-sơn-nhứt ! Vì ông Tr/s Cơ-phi này đang bị thương nằm điều trị tại đây, hơn nửa Tr/s Cơ-phi Lê quang lại là con trai của Chánh Văn Phòng Tr/T Minh tư lệnh KQ. Chuyện như thế này, lúc bay phi-vụ tiếp tế vào buổi chiều cho một tiền đồn phía bắc gần biên giới Miên-Việt, theo tin quân báo nói tiền đồn này tuy nằm gần biên giới, nhưng không thấy có nhiều dấu hiệu gì về những hoạt động của địch, chiều hôm đó tụi tôi mang các kiện hàng lương thực và đạn dược như những lần thả dù tiếp tế khác. Lúc trên đường bay đến tiền đồn này, nếu tôi không lầm thì nó nằm về phía bắc giữa Thiện-Ngôn và Tống Lê Chân. Khi bay ngang qua vùng Dầu Tiến thì tụi tôi được lệnh đổi sang tần số FM để liên lạc và làm việc với Họa-Mi 11. Tôi gọi và liên lạc được với Họa-Mi 11 không biết L-19 này của phi-đoàn nào. Đ/u Lây bảo tôi hỏi Họa-Mi xem thử anh chàng này đang ở đâu, vì có khi anh gọi nghe mấy anh chàng này trả lời mà mấy giả đang còn nằm dưới đất cũng có ! Sau khi tôi gọi thì nghe Họa-Mi 11 trả lời là đang bay trên vùng, nên hỏi:
– Còn tình hình an-ninh thì ra sao hả Họa-Mi ? Có phòng-không có Sa-7 gì không vậy?
– Yên tỉnh, yên tỉnh mấy anh cứ vô đi.
Tôi và Đ/u Lây cùng ông Tr/s Lê Quang, cơ-phi đều ráng quét mắt nhìn về hướng Bắc để tìm xem có bóng dáng chiếc L-19 nào không.
Tìm mãi cũng không thấy ai trên vùng, lúc đó tụi này từ 7 ngàn bộ đã xuống 3 ngàn bộâ, ông Th/u không-hành-viên báo cáo sắp sửa đến mục tiêu, bay vào từ phía nam khoảng chừng 10 dặm tụi tôi đã thấy được cái tiền đồn nhỏ xíu vì chiều hôm đó trời quang đãng.! Theo sách vở khi người Không-hành-viên tính toán và gọi check list thả dù sẽ có những phần như là 10 minutes warning, để các áp tải mở cửa sau và chuẩn bị dao cắt dây cột hàng. Sau đó đến 3 phút rồi 1 phút.v.v..Hể khi nghe đến 3 phút là phi-cơ chui đầu lao xuống với một góc độ đáng kể ( nhưng không thể so sánh được với các khu-trục khi dive bom) Rồi 1 phút warning có nghĩa là phi-cơ phải bình phi ở cao độ để thả hàng, ở đây có nghĩa là 600 bộ cách mặt đất. Tất cả đều yên lặng để nghe ông không-hành-viên gọi 3 seconds warning, Pilot thì có nhiện vụ giữ phi-cơ bình phi, hướng bay và tốc độ đã được ông Navigator cho biết trước, co-pilot tức là tôi phải để ngón tay ngay công tắt bật đèn xanh, hể nghe ông Navigator gọi “green light” là tôi lập tức bật đèn xanh, Th/t Lây sẽ tống ga và kéo đầu phi-cơ ngóc lên như đang bay làm “airshow” Tr/s Quang cơ-phi sẽ phụ bật 2 ga xăng cho 2 máy phản lực đạt tới sức đẩy tối đa ( Maximum thrust) Còn 2 vị áp-tải phía sau sẽ cắt 2 dây cột các kiện hàng ở hai bên để cho các kiện hàng nối đuôi nhau tuột ra khỏi thân phi-cơ. Tất cả các động tác này phãi xảy ra cùng một lúc theo như những bài học thả dù mà tất cả phi-hành-đoàn đều đã học và đã từng thực hành nhiều lần. Khoảng chừng 1 giây trước khi nghe ông Navigator bấm máy gọi “ Green light”, tôi nhìn thấy tiền đồn này ngay trươc mặt, lá cờ Việt Nam trên nóc đồn trông thấy rõ….thì một tràng đạn bắn từ đầu mũi đến đuôi phi-cơ, tôi không biết phi-cơ mới bị trúng đạn bằng loại súng gì nhưng tiếng nổ trong phòng lái nghe kỳ-cục và lớn lắm, khói bay mù mịt. Tôi không nhớ ai đã hoảng hốt gọi “green light, green light” đến 2 lần, nhưng tôi cũng đã bật đèn xanh ngay lúc bị trúng đạn. Th/t Lây và Tr/s Quang đều tống ga của 2 máy chong chóng và 2 máy phản-lực tối đa, các kiện hàng cũng đã ra khỏi thân phi-cơ. Th/t Lây quẹo gắt về phía phải và đem phi-cơ vọt lên đến 6 ngàn bộ rồi mới bình-phi. Sau khi bình phi trên đường bay trở về TSN. Đ/u lây bấm máy hỏi 2 ông áp tải phía sau có sao không thì nghe hai ông đều lên tiếng vô-sự và cũng báo cáo là chính giửa sàn tàu lũng nhiều lỗ cách nhau 2 tất và nhìn lên trần thấy mây xanh rõ ràng..trên trển có sao không hả Đ/u ? Đ/u Lây và Tr/s Quang cơ phi, ngồi ngay ở chính giữa cả hai đều quay sang nhìn tôi hỏi anh có sao không ? Tôi lấy tay bóp chân cẳng mình thấy không có gì cả, tôi bấm máy nói tôi OK. Ông Th/u Navigator cũng đứng chính giữa tàu, ngay sau lưng Tr/s Quang cũng bình yên vô sự. Nhưng khi tôi quay nhìn lên Tr/s Quang thì tôi thấy có một giòng máu tươi từ trong headset chảy xuống gò má mà dường như Tr/s Quang không hề hay biết. Tôi nói ê mà dường như anh bị chảy máu, tôi vừa nói vừa chỉ vào cái headset. Tr/s Quang liền đưa tay mặt lên quẹt vào dòng máu nóng đang chảy rồi xòe bàn tay ra nhìn…rồi tôi thấy Tr/s Quang gục ngay trên ghế cơ-phi sau khi thấy máu của mình. Tôi gọi đài kiểm báo Paris báo cáo là trên đường về trên phi-cơ bị trúng đạn nhiều chỗ và có người bị thương, yêu cầu báo cáo lại cho bên không-đoàn biết và xin đài kiểm soát cho tụi này vào đáp khẩn cấp xin xe cứu thương chờ dưới đất. Sau khi vào đáp ở phi-đạo 25L (trái) của TSN, phi-cơ chỉ vừa khỏi rời đường bay chính vào đường di chuyển (taxi way) thì khựng lại vì 1 bánh trước bị trúng đạn nên bị mất hơi hồi nào không hay. Xe cứu thương và cứu hỏa bao quanh chiếc phi-cơ C-123 bị nạn. Phi-hành-đoàn đi xe của không-đoàn ra đón gần cuối đầu phi-đạo, còn Tr/s Quang thì xe cứu thương mang về bệnh xá. Vài tháng sau Tr/s Quang bình phục đi bay lại và sau này cũng học thành cơ-phi của C-130 và ở cùng phi-đoàn 435 với tôi. Tr/s Quang nói là các Bác sỹ KQ của mình và Mỹ đều nói là mảnh đạn hay viên đạn vẫn nằm trong đầu sau lỗ tai bên phải, họ không cần mỗ lấy ra….Khoảng năm 1987/88 tôi có bắt liên lạc được với Tr/s Quang bên Dallas, và trong cuộc điện đàm tôi nghe ông đối thoại dường như không được “Friendly bình thường” như hồi trước . Không biết có phải do ảnh hưởng của viên đạn còn nằm trong đầu ông này không..rồi tôi cũng mất luôn tông tích của Tr/s Quang từ dạo đó…
******
Trong những tháng cuối của năm 1974 tôi có bay một phi-vụ Test thả bom trên C-130.
Nếu tôi nhớ không lầm thì đó là tháng 10/74, tôi bay với Th/t Nguyễn-Chánh-Mỹ người Huế. Di chuyển chiếc C-130 từ bến đậu sang Hot Cargo của phi-trường TSN khoảng 9 giờ sáng, bên quân cụ cho các chuyên viên sang gắn một thanh kim loại chính giửa sàn tàu, chiều cao khoảng 2 tất, chạy suốt từ đầu đến cuối và thêm một phần rời nửa trên cửa ramp. Mục đích là khi load mấy pallet đựng mấy trái bom vào sàn tàu, sau khi thả thì các pallet này sẽ chạy thẳng ra sau đuôi phi-cơ và không lệch hướng hay bị vướng kẹt vào thân tàu, như vậy sẽ đạt được độ chính xác. Hôm đó được mấy quan lớn thuyết trình tại Hot Cargo rằng, hôm nay các anh sẽ mang 16 trái bom thật, trên mỗi pallet sẽ để 4 trái bom, 2 pallet đầu sẽ có 8 trái không gắn đầu nổ, 2 pallet ke,á 8 trái bom có gắn đầu nổ, mấy anh em áp tải cẩn thận dùm nghen ! Đài BOB (beacon on bombing?) tại Biên Hòa sẽ dẫn mấy anh thả thử trên vùng Long-Thành, mấy anh sẽ bay cao-độ 24 ngàn bộ, tụi tôi sẽ bay trực thăng quan sát ở 6 ngàn bộ quanh mục tiêu thả. Mấy anh thả vòng đầu 8 trái bom không gắn ngòi nổ để tụi tôi xem khi đụng đất , bụi cát văng lên , tụi tôi sẽ xà xuống kiễm chứng xem đọâ chính xác như thế nào, nếu không thấy được thì lượt bay nhì mấy anh sẽ thả bom có đầu nổ. Bay phi-vụ ngắn này xong là tôi được về nhà nghỉ, nhưng cái mà tôi không thích trong những phi-vụ đánh thả hỏa công, là vì phải đội nón helmet có gắn Oxygen mask, trước khi mở cửa và bay trên cao-độ 24 ngàn bộ nên không quen, sau khi ông không-hành-viên là Th/t. Ngyễn-Bá-Luân ( tức ông cả Tẹm ) tính xong gió mái ở cao độ và hướng bay, gọi cho data xuốâng đài BOB, thì tụi tôi cũng đã làm xong thủ tục rồi vào trục bay, đồng thời cũng liên lạc với trực thăng đang bay vòng phía dưới, để khi sau khi thả thì 1 phút sau mấy ổng sẽ chú ý nhìn vào khu mục tiêu xem độ chính xác khi thả bom thiệt như thế nào, từ xưa nay tôi có bay thả hỏa công ngày có, đêm có, nhưng chỉ mang 48 thùng phi đựng 55 ga lông xăng đặc Napal để thả chớ chưa bao giờ mang bom thật như ngày hôm nay. Sau khi nhập vào đường bay của đài BOB, phi-hành-đoàn chỉ đợi nghe 5 tiếng bíp bíp rồi 1 tiếng te dài là tôi bật đèn xanh và thủ tục thã bom bắt đầu. Phải tốn khoảng 1 phút cho bom rơi từ 24 ngàn bộ đến mặt đất. Sau đó trên tần số FM tôi nghe ông Th/t KQ hồi nảy đang ngồi trên trực thăng quan sát la lên với một giọng vừa vui mừng, vừa hoảng hốt “ Herky 221 ngưng thả , ngưng thả…mấy anh thả chính xác quá trời, bom không có gắn ngòi nổ mà 4 trái nổ mẹ nó hết rồi, nổ văng cha nó luôn cây cờ đỏ tụi tui mới cho lính gắn trên mục tiêu hồi sáng, thôi mấy anh bay về lại TSN đi.”
Trên phi-cơ bay phi vụ này ngoài phi-hành-đoàn 6 người thì có thêm Đ/t Lý chỉ huy trường bên Quân-cụ tháp tùng quan sát. Lúc về Th/t Mỹ để cho tôi đáp..và tôi đã làm một cái chạm bánh thật là êm như đáp trên bông gòn, tôi nghe Đ/t Lý hỏi ủa mà mình đáp chưa dzậy ? Sao ngồi đây tôi nghe êm ru. ( cái này có thiệt 99.9% nên xin quí đọc giả lâu lâu cho tôi được làm “Cat praised cat long tail” một lần.!).Th/t Mỹ để Đ/t Lý ngồi ngay giữa ghế cơ-phi còn ông cơ-phi thì đứng kế bên làm phận sự.
Mấy ổng quên rằng nảy giờ tôi đang ráng bậm môi, gồng mình để đáp cho thật êm, không phải vì tôi muốm lấy le với Đ/t. Lý nhưng vì 8 trái bom có gắn ngòi nổ còn nằm phía sau.! Có lẽ vì quá sung sướng khi nghe thấy sự thành công của lần test đầu tiên nên khi trở về Th/t Mỹ di chuyển về bến đậu nhưng tôi bấm intercom nói ; “Hot Cargo” Thiếu tá! Ổng hỏi cái gì ? Tôi nói, mình phải giải tỏa 8 cục nợ còn nằm phía sau! Th/t Mỹ lấy tay vỗ lên tráng nói, chút xíu nửa là quên, rồi quẹo trái trên đường di chuyển North South trở qua Hot Cargo. Đồng thời cũng cho Đ/t Lý về vì xe Jeep và anh tài xế còn ngồi chờ bên đó.
Ngay tối ngày hôm đó thay vì mang 48 bình xăng Napal đi thả hỏa công như những lần trước, thì 2 chiếc C-130A của VNAF đã mang 96 trái bom 250 pound có gắn đầu nổ, âm thầm cất cánh trong đêm tối bay thả trên mật khu của VC, gần vùng biên giới Miên Việt. Ngày hôm sau có người nói lại rằng đã có nghe trên đài phát thanh của VC la hoảng: B-52 của Mỹ đã trở lại VN !
Không Quân Việt Nam mình sau hiệp định Ba-lê, có 2 phi-đoàn C-130A. Mỗi phi-đoàn có 16 chiếc, nhưng con số thực thụ không bao giờ đủ 16 chiếc. Còn số phi-cơ khả dụng để bay hành quân hay huấn luyện thì có chừng 5-7(?) chiếc là nhiều. Suốt 2 năm 4 tháng khi VNAF xữ dụng C-130 thì con số tổn thất chỉ có 3 chiếc ( Trước 4/75) Chiếc phi-cơ cuối cùng bị hư hại tại Biên-hòa ngày 6 tháng 4, 1975, phi cơ của phi-đoàn 435 khi bị văng ra cỏ phi-cơ số đuôi HCB 55-002, phi-hành-đoàn vô sự, chiếc thứ nhì cũng của phi-đoàn tôi 435 bị hư hại trong phi-vụ tiếp tế gạo tại Sông Bé vào ngày thứ Tư 18 tháng 12, 1974 số đuôi 56-0521 cũng do Th/t Nguyễn-Chánh-Mỹ và co-pilot là Tr/u Châu-Vĩnh-Khải (Khải sửa. Khóa 7/68) bay, khi phi-cơ này bị trúng đạn pháo kích khi đang thả hàng dưới đất. Vài giờ sau khi hay tin chiếc này bị trúng pháo kích và biết được phi-hành-đoàn vô sự, tôi chờ Chinook của VNAF mang phi-hành đoàn về đến TSN, liền chạy tới hỏi thăm thằng Tr/u Khải, thấy tay nó dính đầy máu .Sau đó được nó kể lại rằng khi bị trúng đạn cháy máy số 4 bên phải, phi-hành-đoàn và hành-khách ai cũng tìm đường thoát thân khỏi phi-cơ, nó cũng tính theo đuôi Th/t Mỹ chạy ra bằng cửa chính, nhưng nhìn ra thấy đông quá nên nó đổi ý, trở lại mở cửa sổ phòng lái phía phải chổ nó ngồi rồi phóng xuống đất.
– Nhưng sao tay mày bị chảy máu tùm lum dzậy? Tôi hỏi.
– Tại tao quýnh quá, sợ máy bay nổ nên chạy ra vòng đai phi-trường, chụp đại vô hàng rào kẽm gai leo nhảy dzọt ra ngoài đường nên tao bị lủng hai bàn tay.
Khi tôi nghe nó nói nó nhảy ra khỏi cửa sổ của C-130 thì liền hỏi ngay, mà mày nhảy ra cửa sổ đó đầu trước hay chân trước ? Mà bay phi-vụ Sông Bé phi-hành-đoàn đều phải mặc áo giáp …sao mày lọt qua cửa sổ đó được ?
– Tao nhỏ con nên leo ra trót lọt..mà tao nhảy đầu xuống trước hay chân xuống trước tao cũng không nhớ. Tao chỉ biết không bị gãy tay chân hay bị thương nặng là được rồi.Tôi hỏi chi tiết vì từ cái cửa sổ của C-130 đến mặt đất cũng trên 8 feet, như vậy nhãy xuống đất đâu phải là chuyện dễ. Cuối tháng 12 năm 2006 tôi có về Cần-thơ thăm thằng Khải, tôi bới lại chuyện cũ hỏi nó vụ nhảy xuống đất từ cửa sổ của C-130 Ba mươi ba năm về trước, nó vẫn khẳng định không phải một mình tôi hỏi, mà chính ông Chuẩn-Tướng Tiên, cũng đã gọi riêng hỏi nó thoát thân từ C-130 bằng cửûa sổ, đầu trước hay chân trước, và câu trả lời của nó cho Chuẩn tướng Tiên vẫn là không nhớ gì cả! Có lẽ nó là cháu gọi bằng cậu của Đ/t Nguyễn-hồng-Tuyền nên mới được Chuẩn tướng Tiên thăm hỏi kỹ vậy.
Đúng một tuần lễ sau đó, ngay vào ngày lễ giáng sinh của năm 1974, phi-đoàn 437 lại có một phi-vụ tiếp tế gạo 3 lượt cho tỉnh Phước-Long cũng vào ngày Thứ Tư, 25 tháng 12 năm 1974. Hôm đó Đ/u Nguyễn Chuân (Khóa 65) và tôi là phi-hành đoàn túc-trực I bên phi-đoàn 435, còn bên 437 phi-hành-đoàn do Đ/u Trần-Ngọc-Châu (Châu Râu khóa 64E) và Tr/u Võ-văn-Sáu ( Khóa 68A) là phi-hành-đoàn túc trực I. Phi-vụ tiếp tế Sông-bé tuần rồi bên Phi-đoàn 435 đã thực hiện nên ngày hôm nay khi phi-vụ bay lên Phước-Long tới phiên bên Phi-đoàn 437. Tôi không biết nhiều về Đ/u Châu Râu, chỉ biết anh từ bên C-47 chuyển sang bay C-130, đáng lẽ phi-vụ ngày hôm đó của Đ/u Nguyễn-Khắc-Hoàng (Hoàng Mun, Khóa 64E) làm túc trực I, Đ/u Châu Râu làm túc trực II, nhưng Đ/u Châu Râu đề nghị với Đ/u Hoàng Mun đổi, để bay trước cho xong ngày đó, đặng buổi chiều về không bị lỡ hẹn với với cô Khen, người tình làm “ô tét đờ le” của Air Việt Nam. Còn Tr/u Võ-văn-Sáu thì cùng khóa Pilot 71-03 chung với tôi tại Keesler. Sau đó tôi và nó cũng học chung khóa I, C-123K tại Locbourne AFB, rồi khi chuyển sang bên C-130 tôi và nó cũng cùng chung khóa I . Sáng hôm đó tôi và Tr/u Sáu đang ngồi uống Cà Phê tại câu lạc bộ cuả phi-đoàn 437, đối ngang phòng yểm trợ hành quân của sư-đoàn 5. Tôi còn nhớ rõ lắm, tụi tôi 2 đứa ngồi chỗ bàn góc cuối ngay cửa kính nhìn ra phía đài kiểm soát và Terminal của Air Việt Nam. Thằng Sáu ngồi quay lưng về phía phòng yểm-trợ hành-quân của Th/t Long.
Ngày hôm đó tôi thấy trên gương mặt, trên ánh mắt của thằng Sáu có một vẻ buồn vô vọng. Đây là câu nói cuối cùng tôi nghe nó nói với tôi ngay cái góc bàn đó, mặc dù bây giờ đã 33 năm, nhưng tôi vẫn còn nhớ giọng nam kỳ thật chậm rãi và gương mặt trầm buồn, đăm chiêu của nó từng chữ một:
“ Khiêm ơi, chắc tao đi kỳ này không có dề nửa mày ơi!” .
Tôi cố trấn an nó :
– Đâu có gì mà mày nói sao nghe ghê quá dậy mậy !
Vì chiếc phi-cơ của phi-vụ này bị trục trặc kỹ-thuật nên mãi đến xế trưa mới rời ụ đậu.
Sau khi chiếc C-130 của phi-đoàn 437 có số đuôi GZE 55-00016 cất cánh. Đ/u Chuân chở tôi trên chiếc xe Hoda Dame màu xanh của ổng chạy sang khu gia-binh để kiếm gì ăn trưa, lúc đang ăn tôi thấy có cãm thấy có một cái gì đó thật khó tả,linh tính dường như báo cho tôi biết có cái gì không ổn đây, câu nói của thằng Sáu hồi sáng cứ ám ãnh trong trí tôi mãi! Tôi và Đ/u Chuân bàn nhau không biết kỳ này bên 437 đi có sao không, sao tình hình vùng đó không ổn mà mấy ổng cứ bắt C-130 đi như vầy thật nguy hiểm quá.
Khoảng cách từ TSN đến phi-trường Sông bé chỉ có 63 Nautical Miles đừng chim bay của Bearing 017 độ từ TSN Tacan 102 (Tactical air Navigation).
Đối với tốc độ của C-130 chỉ bay khoảng 18 phút là tới, tôi và Đ/u Chuân ăn thật mau rồi trở về Phi-đoàn, trên đường từ khu gia-binh về tôi nói với Đ/u Chuân rằng, nếu mình về đến phi-đoàn mà nhìn qua bên Không-đoàn 53 không thấy cái xe Jeep nào là xem như yên tâm, còn hể thấy có 3.4 cái xe Jeep đậu là xem như có chuyện lớn. Tôi ngồi sau xe Honda đi ngang qua phòng dù rồi mới tới sân trước Không đoàn, tôi ngồi sau nhưng vẫn cố chờm tới trước ngó qua cạnh góc phòng dù xem thử có thấy cái xe Jeep nào đậu trước Không-đoàn không ! Quả nhiên 4 cái xe Jeep sắp hàng đậu ngay trước không đoàn 53, Tim tôi đập mạnh , Đ/u Chuân và tôi lật đật dựng xe Honda rồi chạy lên phòng trực của Phi-đòan, vừa thấy mặt tụi tôi là ông Th/u Loan sỹ-quan trực ngày hôm đó nói ngay: C-130 của 437 mới vừa bị bắn rớt ở Phước Long! Không có tin tức gì về số phận của Phi-hành-đoàn. Ổng không nói Sông Bé mà nói Phước Long, dù sao thì tụi tôi đã từng bay đến Sông Bé đã quá nhiều lần nên khi ông Th/u Loan nói Phước Long thì tụi tôi nói ừ cái phi-trường ở đó là Sông Bé. Tôi thật bàng hoàng khi nghe tin này, người đầu tiên tôi nghỉ tới là thằng Tr/u Sáu. Mới cách đây chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, thằng Sáu bằng xương bằng thịt còn ngồi uống Cà phê nói chuyện mà giờ đây hai chữ chiến tranh đã biến nó thành người thiên cổ ! Nếu như chiếc phi-cơ GZE không bị trở ngại Kỹ-thuật, nếu như thằng Sáu bay với Đ/u Hoàng Mun biết đâu mọi việt đã xãy ra sẽ hoàn toàn khác biệt…Tình hình quân sự lúc đó quá sôi động nên tôi không biết cấp trên có nghĩ đến việc tìm kiếm và thu hồi thân xác của phi-hành đó không? Mãi đến bây giờ vẫn chưa một ai tìm được câu trả lời, phải chăng phi-vụ cuối cùng tiếp tế cho tiûnh Phước Long của VNAF C-130 đã đúng như lời bài hát Không Quân Hành Khúc.”Đi không ai tìm xác rơi !”. Sau này tôi được biết khi chiếc GZE-016 của phi-đoàn 437 đáp ở Phi-trường Sông-Bé đã không bị ăn đạn pháo kích như những lần trước, nhưng bị trúng SA-7 sau khi mới vừa cất cánh chưa được 1 ngàn bộ. Báo-cáo bên bộ binh cho biết là đã nhận được số gạo tiếp tế, điều này chứng tỏ phi-cơ đã bị bắn rơi sau khi cất cánh đúng như nhữõng lời báo cáo về không-đoàn vào buổi chiều hôm đó.
Phần tôi được may mắng còn sống sót để viết lại những dòng chữ này, vì chỉ 4 ngày hôm sau Th/t. Phan-vũ-Điện (Khoá 64) và tôi được chỉ định bay một phi-vụ bí mật ban đêm vào Lộc-ninh vào ngày Thứ Bảy 28 tháng 12 năm 1974 cũng trên chiếc C-130 mang số HCM 518 mà tôi đã viết chi tiết trong bài “Phi-vụ 2868” , đăng trong Đặc San này số tháng 3 năm 1991. Tôi xin trích lại một đoạn lời nói của cố Tr/t Lâm-văn-Phiếu phi-đoàn-trưởng phi-đoàn 435, để quí đọc giả thấy sự may mắng của phi-hành-đoàn tụi tôi:
“ … hồi nảy sau khi mấy anh em cất cánh đi rồi.. .ngập-ngừng một lúc ông nói tiếp “ tôi nghỉ là chắc chẳng bao giờ tôi còn gặp lại mặt mấy anh em nửa!”. Nảy giờ tôi lại đằng Chùa đọc kinh cho mấy anh em đi về được bình-an, chừng nghe trên máy Motorola của KĐ báo là 518 đã về đáp an-tòan tôi mừng quá ra đón mấy anh đây.!”

******
Đó là chuyện đời xưa hồi còn bên VN, còn mấy chục năm bay bên Mỹ này cũng có nhiều chuyện để kể hay để Nổ và để hù bà con…nhưng cái gì cũng theo đúng sách vở… Mà tui có Nổ thì cũng nổ có ba tăng, có chứng minh đàng hoàng chớ không phải Nổ bừa bãi, nói theo danh từ của VC bây giờ thì tui thuộc loại nổ “ Cao cấp”!?
Hồi năm 1987 khi bay B-727 cho hảng Piedmond Airlines tôi có gặp mọât vài chuyện lặc vặt như sau: một cậu hành khách người Việt gặp tôi than, sao hảng của chú làm việc bê bối quá, tôi hỏi bê bối sao kể nghe thử coi.
-Chú coi tui mua dé đi từ Miami đi Boston mà tui đi từ hồi sáng, họ chở đi lung tung rồi trở lại đây ngồi chờ, bây giờ gần 6 giờ chiều rồi mà chưa tới!
– Tôi hỏi: máy bay anh cất cánh ở Miami hồi nào?
– Dạ hồi 7:25 sáng nay chú. Giấy tờ nó nói 12:45 là tới Boston
– Anh cho tôi xem vé máy bay được không?
Tôi cầm vé đọc thì thấy lịch trình là Miami bay lên Charlote này đổi máy bay rồi tiếp tục bay sang Boston.
Tôi hỏi:
– Hồi sáng nay lúc 9 giờ, chuyến bay anh đáp đây sao không xuống khỏi máy bay rồi chuyễn sang máy bay khác bay qua Boston?
– Ủa! bộ có dzụ đó nửa hả !Tui tưởng ngồi trên máy bay thì nó chở mình luôn tới Boston.
– Anh đi máy bay bên Mỹ này mấy lần rồi ?
– Dạ lần đầu tiên chú.
– Chuyến bay của tôi chút nửa 7 giờ bay qua Boston, anh sẽ đi trong chuyến này. Chuyện rắc rối là tại tới đây hồi sáng anh không xuống máy bay cứ ngồi lỳ nên máy bay tiếp tục bay đi chỗ khác và bây giờ trở lại đây.
Thưa quí đọc giả thật sự thì trong thập niên 80 vấn đề kiểm soát hành khách đi phi-cơ rất lỏng lẽo, vì hảng Piedmond thời đó vấn đề phi-hành đoàn dường như là thay đổi thường xuyên trên các chuyến bay, và trong các chuyến bay không bị “Over Book” nên số hành khách không được kiểâm sóat chính xác. Mấây cô tiếp viên mới đổi ca, vào phi-cơ cứ tưởng ông hành khách cũ tiếp tục ngồi lại để bay tới chỗ khác nên không hỏi han gì. Vì vấn đề ticket thì do nhân viên trạm dưới đất kiểm soát, chừng sau khi đáp lại thấy ông hành khách “wờ wạng” này sao không chịu xuống máy bay, check lại giấy tờ thấy ổng đi Boston, may mà phi-cơ trở lại Charlote là trạm (HUB) chuyễn đổi hành khách nên ông hành khách họ Lê này cũng sẽ tới được Boston nhưng hơi trễ…
Mấy tháng sau tôi gặp một bà già người Mỹ cũng rơi vào trường hợp tương tự, sau khi rời chỗ bà ở bay sang Charlote rồi đổi máy bay qua Ashville chỉ bay có 18 phút là tới, trong giấy tờ thì bà sẽ đến phi trường Ashville North Carolina lúc 3 giờ chiều. Sau khi ngồi lỳ trên máy bay “ngao du sơn thủy” thì bây giờ bà sẽ bay chuyến bay của tôi sang Ashville lúc 10:25 giờ tối !..và ba cái chuyện lặc vặt này cũng xảy ra hà rầm tại các hảng Airline khác thời đó.
Khoảng năm 1988-90 sau khi đã có được số thâm niên (seniority) trong hảng, tôi lại đổi sang bay đường dài đông tây có nghĩa là bay sang Cali như đi chợ, tôi không chọn bay sang Seattle hay Las Vegas nhưng chọn Los Angeles (LAX) vì ba má và anh chị em tôi ở đó, hay San Francisco (SFO) tôi cũng có một đứa em gái trú ngụ tại đây cộâng với một số VNAF friends dưới miệt San Jose.( Năm 1984-85 khi còn bay B-727 cho hảng UPS tôi đóng đô tại SFO nên những người bạn VNAF quen biết đều ở San Jose, còn tại SFO thì tôi không quen biết ai cả.)
Mỗi tuần cứ sáng thứ Ba lúc 10 giờ sáng ba má tôi lái xe lên phi-trường LAX để đón thằng con quí tử về nhà, thay quần áo xong là tôi lại hỏi mượn chìa khóa xe của Ba tôi vậy là dzông mất đến tối mới mò về. Sáng hôm sau, tôi chỉ có dịp ngồâi ăn sáng với ba má tôi rồi lại nhờ Ba tôi đưa ra phi-trường, thỉnh thoảng tôi nhớ Má tôi có hỏi sao mà con không ở nhà chơi với Ba Má mà cứ hể về tới nhà là con dzông đi đâu mất tiêu ? Tôi không có đào kép gì bên Cali hay đi ăn nhậu bậy bạ, tôi chĩ ghé qua nhà các VNAF friends đi làm ca tối hay có tiệm bán hàng rồi ngồi lì cả ngày tán gẫu thì có.
Sau này khi thằng con trai tôi vô Đại học, lâu lâu về nhà là tôi cũng thấy nó biến đi đâu mất tiêu..thử hỏi tôi trách nó sao không ở nhà với tụi tôi được.?
Trên vùng tôi ở, gia đình tôi có quen với vợ chồng anh Lâm là Tiến Sỹ Canh-Nông ở vùng ngoại ô, chị lại là cháu gái của (cố) Tr/t. Phạm Công Minh một đại sư-tổ bên ngành C-47 và cũng là em gái út của 2 anh em VNAF là anh Tân Phạm bên C-47 và anh Lực Phạm C130, hai anh em này đóng đô bên Cali. Cứ mỗi mùa hè thì gia đình anh chị Lâm lại mang bà cụ từ Cali về Ohio này để thăm cô con gái út và 3 đứa cháu ngoại. Trước khi biết tôi thì gia đình anh Lâm cứ sợ bà cụ đi lạc nên phải mua vé cho chị hay một người bà con nửa “Escort” bà cụ bay sang từ Cali rồi bay về, dù đây là chuyến bay Non-stop không có đổi chuyến bay chỗ nào cả . Như vậy rất là tốn kém. Nhưng từ ngày biết tôi thì anh chị Lâm cứ hỏi có chuyến bay nào tôi bay qua lại Cali vào mùa hè thì cho anh chị hay. Tưởng gì chớ khó chớ nhờ tôi làm “Escort” cho bà cụ đi về dễ ợt. Tôi nhớ kỳ đầu tôi không làm Pilot bay chuyến bay về từ Cali nhưng tôi chỉ đi quá giang ngồi làm hành khách phía sau, gia đình anh Lực mang bà cụ giao cho tôi làm áp tải cho bà về Ohio, trên chuyến bay bà cứ nhắc tôi nhắm mắt lại ngủ cho khỏe con. Còn phần tôi thỉ cứ nghiền ngẫm trên mấy trang sách về computer. Rồi tới giờ ăn tối mấy cô tiếp viên mang khay thức ăn lại hỏi : Chicken or Beef ? Tôi thông dịch cho bà cụ là mấy cô muốn hỏi bà cụ muốn dùng thịt gà hay thịt bò? Tôi trả lời dùm là “chicken” rồi tới màng nước uống thì coffee hay coke tôi cũng chọn coke dùm cho bà.
Sau 3 tháng hè anh chị Lâm lại hỏi tôi giúp đưa dùm bà cụ về Cali được không.Dĩ nhiên là phải được, nhưng anh chị Lâm nói mà mấy nhỏ bên Cali không để ý nên đã mua vé cho bà cụ về ngày thứ sáu còn anh lại bay về ngày thứ Ba, tụi này có gọi lại hảng xin đổi ngày mà họ nói không được. Tôi nói cũng không có gì khó, cứ mang bà cụ ra phi-trường rồi tôi tính cho. Phi-cơ sẽ cất cánh lúc 9:45 sáng. 9 giờ sáng sau khi đáp tôi chạy ra cổng thì thấy anh chị Lâm và bà cụ đã có mặt. Tôi nói đừng trình giấy cho họ rồi tôi móc trong túi tờ giấy vàng ghi tên Má tôi họ Phạm trình cho quầy vé, nói Má tôi đi chuyến này với tôi. Hồi đó dễ dàng lắm không phải hỏi thẻ kiễm tra hay ID gì cả, tôi nói Má tôi là họ vô danh sách ngay tại chỗ, và bà còn được vào máy bay trước nửa. Dẫn bà cụ ra phi-cơ tôi gọi cô tiếp viên trưởng lại dặn kỹ là: đây là Cô của tui ( this is my aunt) bả hõng có biết tiếng Mỹ, you đừng có hỏi hang gì bả, tới giờ ăn cứ cho bả ăn uống cái thứ gì cũng được! Cô tiếp viên trưởng vui vẻ trả lời yes yes…don’t worry Khiêm I will take good care of her.
( Quyền lợi cho nhân viên phi-hành hảng tôi thì con cái dưới 21 tuổi và cha mẹ ruột đi phi-cơ miển phí và đi không giới hạn(Unlimit travels) nhưng cha mẹ dzợ thì hỏng được: Vì 5,000 ngàn ông pilot và 16 ngàn cô cậu tiếp-viên cứ li dị dzợ hoài nên không ai phí thì giờ mà thay đổi tên họ cha mẹ dzợ vô hồ sơ.).Vì quá dễ dàng nên tôi cũng có thể dẫn mấy đứa cháu hay con cái của bạn bè tôi đi free, nhưng rủi bị lộ thì coi bộ hơi phiền phứt. Lý do là ở đây 3 đứa con của tôi đi máy bay thường xuyên nên mấy nhân viên kiểm soát vé đều biết mặt nhớ tên. Quí đọc giả sẽ hỏi sao mà trên quầy kiểm soát vé thì tôi nói Má tôi, mà xuống phi-cơ thì tôi nói là Cô tôi: xin thưa là hể không quen nói láo bằng tiếng “Mỹ” thì dấu đầu lòi đuôi! Nhưng nhân viên kiểm soát vé đâu có chạy xuống nói với mấy cô tiếp viên là có Má tôi đi trong chuyến này.?!
Hai giờ sau khi cất cánh khỏang chừng trên không phận nam Denver, sau khi dọn cho hành khách ăn uống xong, cô tiếp-viên chạy lên phòng lái mang thức ăn cho Pilot, cổ đưa khay đồ ăn cho tôi rồi nhe răng cười cười nói: Mr. Phạm hồi nảy you nói “aunt” của you không biết tiếng Mỹ phải không ? Tôi nói Yes! What about ?.
Cô tiếp viên vừa cười và nhào lại làm bộâ bóp cổ tôi, cổ nói bộ you tính xí gạt tôi hả? ( Did you try to trick me?) Hồi sáng tôi hỏi aunt của you muốn uống gì bả nói Coke sau khi đưa coke cho bả thì bả nói Thank You!. Lúc served Breafast tui hỏi bả muốn Omelette or French toast thì bả nói: chicken !..Tôi đẩy tay cô tiếp viên ra khỏi cổ tôi mà không biết phải phân bua thế nào nghe cho xuôi cái lỗ tai. Bà cụ đi với tôi chuyến chiều họ dọn đồ ăn diner nên mới có món Chicken, còn bây giờ bay về chuyến buổi sáng nên họ dọn đồ ăn sáng.Kỳ này ngồi solo nên bà nhớ gì nói nấy… Năm 2006 thì bà cụ mất, 90 tuổâi thọ. Tôi không có dịp đi dự đám tang của thân mẫu hai bạn VNAF, nhưng trong lễ cầu siêu cho cụ do gia đình anh Lâm tỗ chức tại địa phương này, tôi cũng đã viết một phần của chuyện này trong bài” Tưởng nhớ bà Bác”. Vợ chồng anh Lâm đã ân cần in ra rồi ép plastic cho vào cuốn kỹ yếu của gia đình để trên Chùa cho các đạo hữu đọc.
Khoảng cuối năm 1989 trước khi tôi chuyển qua bay B-737 thì có một chuyện mà tôi vẫn còn nhớ mãi. Trong phi vụ 4 ngày khởi hành từ Charlote North Carolina bay xuống Tampa sau đó cất cánh về Baltimore, Maryland. Sẽ nghỉ lại đây 20 tiếng rồi chiều hôm sau tiếp tục bay thêm hai ngày nữa, sau khi rời Tampa được 1 giờ, cô tiếp viên lên cockpit báo cáo nói có một cậu hành khách chui vô “rear toilet” nảy giờ lâu rồi mà chưa thấy bước ra, cổ nói có hỏi thì bên trong trả lời OK nhưng sao mà tiếng OK có vẻ yếu ớt quá, ông Captain Mỹ hỏi cô sao không mở cửa ra xem? ( Các tiếp viên đều có chìa khóa mở được tất cả các cửa toilte trên phi-cơ) Cổ nói thằng đó con trai tui đâu có dám mở, thường khi cũng có nam tiếp viên thì vấn đề sẽ dễ dàng hơn. Ông Captain nói Officer Phạm you lấy chìa khóa mở cửa ra xem thử xem có chuyện gì không? Tôi lắùc đầu nói No, no not me! Rủi nó là thằng buôn bán Drug, tui nhỏ con vầy nếu có gì tui đâu có đở đòn nổi, tôi chỉ ông co-pilot nói sao ông không sai trự “big guy” này mà lại sai tôi ? Ông Captai nghe tôi nói có lý nên phái ông co-pilot to con ra phía sau dò xét tình hình. Độ 1 phút sau thì tôi nghe tiếng chuông phía sau gọi nên bốc interphone nghe, bên kia đầu dây ông co-pilot to con với giọng hoảng hốt: Hey! Khiêm, nói với captain có người tự-tử trong máy bay của mình !
-Tôi hỏi, mà người tự tử đó còn sống hay chết ?
-Còn sống, nhưng máu ra nhiều lắm.
Tôi báo cáo lại cho ông captain, ông liền gọi ngay đài kiểm soát không-lưu dưới đất chỉ nói gọn là trên máy bay hiện giờ có người cần “medical attention”, không nói rõ chi tiết và xin đài cho đáp khẩn cấp xuốâng phi-trường Richmond, Virginia cách vị trí đang bay khoảng 30 miles phía trước. Đang ở 31 ngàn bộ, phi-cơ phải nhào xuống khẩn cấp trường hợp này gọi là “emergency descend” mà tụi tôi vẫn phải thưcï tập hàng năm, cũng may là tôi còn ngồi ngay ghế cơ-phi (Pilot bay ngang) nên đã kịp thời đóng các valve áp xuất, nên phi-cơ phải mất cao-độ trong khoảng thời gian thật ngắn, áp xuất trong phòng hành khách không bị ảnh hưởng thay đổi áp xuất quá đột ngột ( Nếu hồi nãy tôi chạy ra phía sau để giám định tình hình mà phi-cơ phải cần mất cao-độ khẩn cấp như thế này thì đợi cho tôi chạy lên hay đợi cho ông co-pilot bước ra phía bàn cơ-phi, mà không biết ông lâu ngày không làm chức cơ-phi liệu ông còn nhớ cái công tắc nào để mà khóa cho đúng thì áp xuấât khoan hành khách sẽ bị trở ngại và hành khách sẽ bị đau lỗ tai là cái chắc!…trước khi được lên ngồi ghế co-pilot thì ông hay bà Pilot nào cũng phải ngồi ở ghế cơ-phi một thời gian 2,3 năm, do đó ai cũng biết rành về hệ thống hoạt động của phi-cơ, nhưng nếu lâu ngày không có dịp thực hành thì cũng hơi quờ quạng…Hiện nay ngoại trừ các hảng cargo vẫn còn dùng cơ-phi trên các Boeing-727, DC-8 hay 747-200 còn các hảng hàng không khác trên xứ Mỹ này hiện nay đều xữ dụng các loại phi-cơ tân tiến chỉ cần 2 pilot như B-737/747-400 hay Airbus nên vai trò của người cơ-phi (flight engineer)không cần thiết nữa. ). Ông co-pilot nói, ổng phải đè thằng ông nội này xuống cho mấy cô tiếp viên xé mền băng tạm hai cánh tay rồi cột ông vô ghế sau.Vì ổng cứ đòi chết chớ không muốn sống. Mấy cô tiếp viên sau đó thay phiên nhau chạy lên phòng lái ngồi thở, mặt mày xanh lét!
Lúc sắp sửa đáp ở phi-trường Richmond, ông Captain bảo tôi gọi vô hảng xin xe kéo phi-cơ vô gate (cổng-đậu/ống nồng)vì ông sẽ cho phi-cơ đậu ở cuối đường di chuyển của phi-đạo. Xe Ambulance sẽ ra đây nhận thằng ông Nội này chớ ông không di chuyển vô cỗng đậu như bình thường. Ông giải thích cho tụi tôi biết phải làm như vậy vì tụi ký-giả của đài CNN lúc này hay theo dõi các tin tức của các hảng máy bay, mấy tụi này hay nghe lén trên tần số của các đài không-lưu. Mấy vụ như vầy tụi nó sẽ nhào tới chụp hình, quay phim rồi làm rùm ben, tao không có muốn bị phỏng vấn và được đưa cái mặt tao và tụi mày lên TV, nên tao phải làm kiểu này….rồi tụi tôi sẵn dịp bàn luôn vụ thằng Mỹ con tự tử, ông co-pilot nói sao mà nó không chui vô hotel nào đó tự-tử mà lại leo lên máy bay của mình, tôi chêm vô: tại thằng này nó muốn lên thiên đàng cho gần (vì đang bay trên cao độ 31 ngàn bộ). Sau khi xe Ambulance lảnh thằng ông nội đi rồi,(Boeing 727 có cầu thang cửa sau, nhân viên cứu cấp y-tế đem ông hành khách gần chết này đi cửa hậu nên hành khách không trông thấy) xe kéo phi-cơ vô cổng, các nhân viên của hảng phải làm sạch-sẽ trước khi cất cánh lại. Được biết thằng ông nội này khoảng 19,20 tuổi, sau khi FBI xét trong bao hành lý thì họ thấy có nhiều hình tượng lục cục lòn hòn nhỏ chứng tỏ hắn ta theo đạo thờ quỉ Satan ( Satanic), à sao theo đạo thờ quỉ Satan mà chết thì lại muốn lên thiên đàng ?. Rồi không hiểu vì lý do gì mà lại đợi cho máy bay bình phi ở cao độ 31 ngàn bộ ( tôi có bổn phận phải nói trong hệ thống âm thanh cho hành khách biết là mình đang bình-phi ở cao độ 31 ngàn bộ, chuyến bay sẽ êm ả vì thời tiết tốt, trong vòng 1:30 phút giờ nửa sẽ đáp ở Baltimore v.v..) rồi chui đầu vô cầu-tiêu phía sau đuôi, lấy dao cạo cắt chỗ 2 cườm tay và đứng đó nặn cho máu ra và..chờ chết ! Tôi biết được vì sau khi hành khách xuống khỏi phi-cơ, cả 3 pilot phải xuống xem xét để ông Captain về làm báo cáo. Phòng toilet văng đầy máu và đầy cả bồn rửa tay. Dĩ nhiên trước đó trên đường bay đến phi-trường Richmond thì tôi cũng đã cho hành khách biết lý do tại sao mình phải đáp khẩn cấp xuống phi-trường này. Các hành khách đều am hiểu tình hình nên 2 giờ sau khi tiếp tục hành trình, đang lúc bước vô máy bay có một số hành khách ngõ lời khen phi-hành đoàn làm việc đàng hoàng quá. Ban nãy lúc đi xuống thì có độ 3 hành khách bắt tay cám ơn, vì đáp đây mấy ổng sẽ về nhà sớm được 5 tiếng. Nếu không, sau khi đáp Baltimore, mấy ổng lại phải đợi chuyển sang máy bay Commuter nhỏ bay về đây, như vậy đến tối mới về tới nhà. Sau khi cất cánh thì tụi tôi nhận được công điện của hảng gởi lên: “Sau khi đáp Baltimore 4 cô tiếp viên được về nhà nghĩ ( Đi máy bay khác của hảng về lại căn cứ xuất phát). Tiền lương 4 ngày sẽ được trả đầy đủ. Chiều mai sẽ có 4 cô khác đến thay thế. 3 Pilots vẩn tiếp tục nhiệm vụ cho đến hết phi-vụ 4 ngày! “( Trên tất cả các máy bay của các Airlines hiện nay đều trang bị hệ thống Acard này, màng ảnh computer nhỏ nhận và gởi công điện bằng chữ như ngày nay chúng ta gởi E-mail vậy).
3 chàng Pilots này chỉ xì nẹt là tại cái thằng ông nội mắc dịch kia làm mất hết một buổi chiều đẹp trời được nghỉ lại Baltimore mà thôi.
Đầu năm 1991 tôi đổi sang bay Boeing-737 cũng đổi luôn căn cứ (crew base) sang Phi-trường Pittsburg thuộc tiểu ban Pensilvania, ở căn cứ Charlotte có nhiều pilot Boeing 737 quá nên khó chọn đường bay. Sang thứ này máy bay mới hơn, trang bị ngon lành hơn là 727. Chỉ cần 2 pilot và 2 hay 3 cô tiếp viên tùy ít hay nhiều hành khách hay đường dài ngắn, nhưng tối thiểu vẫn là 2 dù số hành khách đi chỉ có 8 người.( Tại hồi xưa máy bay Boeing-727 có 3 ống phản lực nên cần 3 pilot, qua B-737 và Airbus chỉ có 2 ống phản lực nên dùng 2 pilots thôi, tụi tôi hay nói giỡn với nhau vậy..nhưng mà không lẽ Boeing hay Airbus làm phi cơ có 4 ống phản-lực thì phải cần đến 4 pilot hay sao ?.Tụi này nói chơi vậy mà cũng có phần đúng. Hiện nay tất cả các phản lực chở hành khách nếu dùng các loại phi-cơ 4 máy thì chỉ để bay đường dài liên lục-địa trên 12 giờ bay do đó luật quốc tế đòi hỏi phi-công khi bay ra hải ngoại trên các tuyến đường dài chỉ được phép ngồi trên cockpit tối đa là 12 giờ. Sau đó phải có phi-hành đoàn thay thế trên không trung, nghĩa là phi hành đoàn thay thế này cũng đã ngồi chơi xơi nước hay nằm ngủ đâu đó từ lúc cất cánh trên phi-cơ này từ lâu rồi. Có thể hai phe gặp nhau thương thảo tui sẽ bay tới giờ nào sau đó sẽ tới phiên phi hành đoàn, hay là tụi tui bay phân nửa, tụi anh bay phân nửa…Bên Mỹ này tất cả Pilot đều ăn lương giờ nên tới phiên, mà pilot có ráng ngồi lỳ không chịu đổi chỗ thì cũng đâu có lãnh được nhiều tiền hơn, hảng tôi thì mấy ổng lúc nào cũng sòng phẵng 50/50 (tôi lấy thí dụ lương giờ bay ra ngoại quốc của Pilot hảng Delta trên B-777 phản lực 2 máy là 210$ một giờ, nếu chuyến bay sang Hongkong từ phi-trường Atlanta là 17 giờ thì mổi phe sẽ bay 8 giờ rưởi, không có chuỵên mà ông bay trước sẽ ngồi ráng thêm cho đủ 12 giờ rồi cho ông sau bay 5 giờ để ông trước lảnh 12 giờ còn ông sau cũng bay cùng một chuyến mà lại lảnh 5 giờ còn lại.!). Bay B-737 thì tôi lại ít qua lại miền tây chỉ binh vùng trung và đông của nước Mỹ.
Tôi đến thăm một người quen ngoài dân sự bên Cali, đã hỏi tôi hồi đó tới giờ bay bên Mỹ đã có gặp “sự cố” lần nào chưa ? Tôi hỏi sự cố là cái sự gì vậy, ông nói thì như là bị trục trắc máy khi đang bay, hay bị mấy thằng điên hay say rượu lên đòi lái máy bay..Tôi nói có phãi tiếng Mỹ là Emergency còn bên mình thì gọi là trường hợp”khẩn cấp” đó phải không ? Ông nói phải rồi đó.
– Vậy sao anh lại hỏi tôi “sự cố” làm cái gì đễ tôi phải moi đầu moi óc nghỉ xem đó là cái nghĩa gì quái lạ vậy ?
– Thì ở bển nghe tụi nó nói trên đài hay đọc báo thấy danh từ đó hoài nên bị nhiễm, lâu lâu đem xài cho dzui dzậy mà.
Hồi trước tôi bay B-727 thì có bị chết máy một lần sau khi mới vừa cất cánh ở phi-trường San Francisco, lúc đó đang bay máy bay cho hảng Cargo nên cũng không có gì khó khăn, B-727 có 3 máy nên chết 1 máy vẫn bay được như thường, quay trở lại đáp rồi đợi sửa chửa mất vài ba tiếng đồng hồ thôi. Sau này bay toàn phản-lực chỉ có 2 động cơ phản lực mười mấy năm vẫn chưa bị trục trặt gì đáng kể lần nào cả. Máy bay 2 máy rủi bị hư một máy vẫn bay an-toàn như thường.
– Nghe đi máy bay sao mà ớn quá ! Vợ người bạn chắt lưởi nói vô.
– Tôi trấn an rằng, tai nạn thì đi xe hơi hay đi xe đạp, đi bộ thì vẫn xãy ra hà rầm hằng ngày, nhưng tại mình nghe thấy mấy chuyện đó hoài quen rồi nên không thấy sợ.
– Còn tai nạn về phi-cơ thì rất hiếm, mà mỗi lần có một chiếc phi cơ nào lâm nạn, nhứt là ở bên Mỹ này. Các đài truyền hình, radio và báo chí cứ lập đi lập lại lại từng chi tiếc
Rồi làm cho người nghe vốn sẵn đã yếu bóng vía, và có một số dân chúng không có trình độ hiểu biết nhiều về hàng-không lại càng sợ thêm…
Nếu so sánh về phương diện chuyển vận thương mại về xe cộ , hỏa xa, tàu bè và máy bay thì con số an-tòan nhứt vẫn là phương tiện hàng không !
Vì không phải là dân bay và cứ bị người lớn trẻ nhỏ hỏi dồn, nên sẵn đó tôi làm luôn một bài thuyết trình thao thao bất tuyệt cho cả gia đình 15 người lớn nhỏ đang xúm lại nghe. Hồi mới vô hảng tụi này cũng đã từng nhe mấy ông già thâm niên mách nghề : đừng bao giờ cho người khác biết tụi bây là pilot, dù có ngồi kế hành khách trê phi-cơ khi đi có gian cũng vậy, hể biết tụi bây làm Pilot thế nào cũng sẽ bị làm một màng phỏng vấn bỏ túi hay có khi hỏng cho ngừng…như mỗi tháng bay mấy giờ, tại sao nhìn xuống dưới đất có vòng tròn nơi thì có hình vuông trên các thửa ruộng..họ sẽ hỏi tới tấp trả lời mệt nghỉ. Hôm nay ghé thắm gia đình này. tôi đang ở trong hoàn cảnh này đây. Tôi nói làm Pilot thì được huấn luyện kỹ lắm nên lúc nào cũng sẵn sàng nếu bất thần khi đang bay máy bay bị hư máy, bị cháy, bị mất điện hay mất áp xuất thủy điều v.v..thì đều biết tất cả các phương thức để đối phó, vì mỗi 6 tháng tất cả các Pilot đều phải được huấn luyện ôn lại trong phòng máy bay giả gọi là “simulator” để thực tập với các trường hợp khẩn cấp này.
– Mà hồi đó tới giờ chú có đáp cái nào thiệt dở không chú ? Cậu con trai lớn đang muốn vô US Navy hỏi tôi.
– Có chớ sao không có ! Chở hành khách mà đáp dỡ, mà bị chê thì quê lắm, nên Pilot nào cũng ráng đáp cho thật êm, nhưng có khi ráng mà cũng không làm sao đáp êm được.
– Sao kỳ dzậy chú ?
– Thì đôi khi cũng bị gió lớn, bị trời xấu, bị lo ra chuyện gì đó rồi không để ý vào đồng hồ tốc độ nên đáp dỡ ẹt ! Mà trong hảng chỉ cần dạy Pilot đáp an-toàn thôi ( safe landing), còn ráng đáp cho thật êm thì cũng tùy tài và kinh nghiệm của từng Pilot. Thường thường thì các Co-pilot đáp êm hơn Captain ngồi bên ghế trái, vì lên đến Captain thì coi như tột đỉnh rồi, và chỉ đóng vai trò của một người “ Manager” cho sự an-toàn của chuyến bay và phi-hành-đoàn. Còn co-pilot thì muốn kiếm điểm nên lúc nào vào đáp cũng gò cho chạm bánh thật êm.
Rồi sẵn đó tôi kể cho nghe luôn chuyện tôi đã đáp một cái đáp dỡ nhứt trong đời làm Airline Pilot. Trong cuốn sổ bay bỏ túi tôi có ghi một câu bị chú bằng viết màu đỏ một câu như sau:” Worst landing in my life as an airline pilot” !( Cái đáp tệ hại nhứt của tôi trong đời làm phi-công dân-sự ). 30 năm trước cũng ngày 24 tháng 1 năm 1971, lúc mới bên Mỹ mò về được 1 tháng, trong khi tôi bay huấn luyện với Đ/u người Mỹ tên John Mastronardi, tôi cũng đã đáp 1 cái tệ hại nhứt trong đời mới làm phi-công quân-sự: Đập 1 chiếc C-123K lúc chuyên chở 48 đầu đạn 175 ly tiếp tế cho căn cứ hỏa-lực Djamap (Bùi gia Mập)của Mỹ. Phi-cơ bị hư hại nặng, nhưng sau này mang được về TSN, USAF sửa chửa lại mất gần 8 tháng, sau đó chuyển giao lại cho VNAF, phi-đoàn 425 với số đuôi là XO (X-Ray Osca). 4 tháng sau tôi có dịp vô bộ tư lệnh thăm ông anh, tình cờ gặp một nhóm Pilot A-37 mới bên Mỹ về, đến trình diện tại bộ tư lệnh KQ, trong nhóm này có ông Ch/u Lộc Heo (Khóa 7/68) gặp tôi ổng nói : Ủa tụi tao bên Mỹ nghe đồn nói mày bị đụng núi chết rồi mà sao giờ mày còn đây ? Tui vẫn còn quê trong bụng nên chối và trả lời, chắc anh nghe lộn tin đồn nhảm nhí nào đó, tui đâu có đụng núi hồi nào đâu ?
Trong sổ bay ghi ngày 24 tháng 1 năm 1991. Tụi tôi bay một phi-vụ thường lệ từ phi-trường Raleigh ở North Carolina sang Phi-trường National ở Washington DC, lúc đó chưa đổi tên thành Ronald Reagan như bây giờ. Tuy vào mùa đầu đông nhưng trong những ngày đó không có tuyết nên thời tiết ngày hôm đó nắng ấm. Tụi tôi được cho đáp thẳng vào phi-đạo 36 (Bây giờ thì đã đổi thành phi-đạo 35, lý do là vùng đông bắc có những khu vực bị ảnh hưởng thay đổi của từ-trường địa cầu nên con số cuả phi-đạo bị thay đổi để phù hợp với hệ thống điện-tử cố định dùng làm phương tiện cận tiến chính xác (ILS+Instrument Landing System) cho phi-đạo này.) . Khoảng chừng 2 dặm cận-tiến (Final Approach) ở phi-đạo 36 đang bay theo sau chiếc DC-9 của hảng NorthWest vừa mới chạm bánh, đài kiểm soát bảo chiếc DC-9 nếu được thì làm ơn quẹo trái vào đường di chuyển Charlie (Taxi way C) nhưng có lẽ chiếc này còn tốc độ nhanh quá nên không quẹo vô được nên phải tiếp tục chạy thẳng đến đường Exit kế tiếp. Như vậy khoảng cách an-toàn cho 2 phi-cơ cùng đáp chung 1 phi-đạo không có, tôi dự tính tống ga làm lại vòng bay khác ( Go around). Nhưng đài kiểm soát liền đề nghị là US Air 512 có thuận chịu đáp phi-đạo 33 hay không ?. Đây là quyết định của Pilot, nếu thấy không ổn thì cứ việc làm vòng bay khác. Tôi bấm máy nói OK rồi bay vòng về phía bên phải, bánh xe và cánh cản vẫn còn lòng thòng dưới bụng, hơi vất vả khi bay thấp và bay chậm kiểu này, bay qua phía đông bắc vượt qua sông Potomac rồi sửa lại cho ngay vào cận tiến của phi-đạo 33. Tôi chưa đáp phi-đạo này lần nào, vì phi-đạo này hơi ngắn, nhưng vẫn an toàn tối thiểu cho Boeing-737, chỉ vì ngoại cảnh quanh phi-đạo làm cho mình cảm thấy phi-đạo ngắn hơn thường thôi, phi đạo 33 này 99 phần trăm hàng ngày dùng cho các loại phi-cơ comuter nhỏ, rất hiếm khi dùng cho B-737 như ngày hôm nay. Cuối đầu đáp là sông Potomac, cuối đầu kia là mấy xa lộ và rồi thì Ngũ-giác-đài nằm chình ình trước mặt, và nếu phải “go around” làm lại vòng bay khác ở phi-đạo này thì không phải đơn giảng như ở những chổ khác, phải tránh bay trên Pentagon, không được gây tiếng động nên không được xử dụng sức đẩy tối đa như sách vở, mỗi lần đáp và cất cánh tại phi-trường này là một thách-thức cho Pilot, nhứt là khi đáp về phía nam khi dùng phi-đạo 18…
Vì cứ nghỉ trong đầu đây là phi-đạo ngắn, một đầu là nước đầu kia là chướng ngại vật nên xem như ngày hôm nay tôi sẽ được đáp thử trên hàng-không mẫu hạm vậy! Cánh cản được xữ dụng tối đa ( Full Flaps=bình thường đáp không bao giờ dùng full flaps). Tốc độ sẽ giảm thêm 10 knots nữa như vậy bảo đảm sẽ đáp ngắn, không sợ bị ủi mấy hàng cây trước khi chạy lố ra xa-lộ..Tôi cố gắng chạm bánh trên con số thay vì chạm bánh trên mấy lằng sơn trắng 1000 feet tính từ cuối đầu phi-đạo như sách vở dạy. Còn nếu đáp trên con số thì ăn gian được thêm 500 feet nữa! Vì những tính toán trong đầu lúc đáp, tôi cứ ráng để tâm vào con số 33 sơn dưới mặt phi-đạo, chỉ trong khoảng 2 giây trước khi dự tính chạm bánh, tôi nghe một cái rầm, cả phi-cơ rung chuyển, tôi chỉ kịp đạp thắng và dùng tối đa sức đẩy ngược của 2 máy phản lực ( Reverser) để thắng máy bay lại. Ngày hôm đó tôi đã đáp thật ngắn, nhưng cũng đã “dộng” chiếc Boeing-737 cùng với phi-hành-đoàn và 78 hành khách xuống mặt phi-đạo một cái quá mạnh, chạm 3 bánh một lượt. Thường cũng có khi đáp nặng nhưng chỉ chạm 2 bánh chính rồi đến bánh mũi, đàng này chạm mạnh luôn cả 3 bánh nên sức dội …. Tôi không biết phải diễn tả như thế nào cho đở quê mặt đây… Lý do tôi đáp quá mạnh là vì tôi đã chú ý đến việc chạm bánh trên con số mà trong những giây phút cuối cùng tôi đã làm mất khoảng 5-7 knots của tốc độ an toàn, Trên máy bay phản-lực tốc độ rất quan trọng vì khi đã xữ dụng tối đa cánh cản, tốc độ sẽ bị mất rất nhanh, nguyên một khối sắt trên một trăm ngàn pounds bị triệt nâng (stall) từ trên cao khoảng 5-10 feet rớt xuốâng đất kiểu đó thì làm sao chạm bánh êm ả cho được…Chắc tôi không cần phải khai thêm vì quá quê khi viết lại chuyện này. Sau khi di chuyển vào cổng tôi vẫn mở cửa ra bước ngoài đứng chào hành khách nói thank you, good bye như thường lệ…một số đi ra nhìn tôi với cặp mắt không được thân thiện (they gave me a dirty look), một số đi ngang cười cười hỏi tôi, you đáp hồi nảy phải không?. Hồi xưa you là pilot cho hải quân hả?. Tôi không trả lời tiếng nào, nhưng chỉ ngược ngón tay cái ra sau lưng, chỉ vô phòng lái còn khép hé cửa đổ thừa cho thằng Mỹ….eh! Một chị tiếp viên sau đó đến nói nhỏ với tôi : You đừng có “feel bad “ vì tôi đã có bay với một ông Pilot đáp mạnh đến nổi tất cả Oxygen mask đều rớt xuống trên đầu hành khách….
***********
Khoảng tháng 9 năm 1991, khi tôi bay chuyến Detroit sang Philadelphia, lúc sắp sửa đóng cửa phi-cơ thì được lịnh của hảng giữ phi-cơ lại ở cổng thêm 15 phút, để cho một hành khách đi lạc chuyến bay của hảng Northwest quá giang! Ông Mỹ trên quầy vé chạy xuống phi-cơ nhờ mấy cô tiếp viên hỏi dùm trong đám hành khách này có ai biết speak Vietnamese không? Cô tiếp viên trưởng chưa đợi ông kia nói hết lời là đã chui vô cockpit nói Mr. Phạm: they need your help! Đi bộ với ông Mỹ kiểm soát vé trở vào bên trong thì tôi gặp ngay một bác người Việt khoảng 65 tuổi, ông người Mỹ nói sơ cho tôi biết là ông này người VN không biết tiếng Mỹ nên hồi nảy bay từ San Francisco bay sang đây đã đi lộn chỗ thành thử hụt chuyến bay Northwest sang Philadelphia, bên Northwest mới tìm được ổng nên họ gởi qua hảng mình vậy nhờ Mr. Phạm nói dùm với ông là sẽ đi máy bay hảng này. Tôi quay sang chào ông bằng tiếng Việt rồi nói xin lỗi bác tên gì, ông nói bằng giọng người nam đặt sệt: dạ thưa cậu ba tui tên Thanh ( Chắc ông thấy tôi mang 3 gạch trên cầu vai nên gọi tôi bằng cậu ba ?) Tôi nói thôi bác theo tôi xuống máy bay rồi tụi tôi mang bác sang Philadelphia. Trên đường đi xuống tôi hỏi ông:
– Sao bác đi có một mình vậy?
– Thì nhà nước nó cho một mình tui đi, thì tui đi..mà cậu ba à làm sao tui đem dzợ tui qua đây được cậu?
– Ủa! mà vợ bác ở đâu ?
– Dạ, nó còn bên Việt Nam, quê dzợ tui ở dưới Đầm Dơi. (Tôi có nghe về địa danh Đầm Dơi hồi nhỏ, nhưng đến bây giờ vẫn chưa biết nó nằm gần tỉnh nào trên bản đồ miền Nam ?)
– Chắc bác qua đây theo diện HO, mà hồi trước bác là lính gì vậy bác ?
– Tui cũng không biết tui là lính gì nửa cậu ba, lâu quá rồi nên tui quên hết.
Thấy ông già này tướng mạo quá khắc khổ và nghe ông nói ông không biết hồi xưa đi cái thứ lính gì nên tôi không muốn hỏi tới thêm nửa chỉ hỏi ổng một câu cuối cùng trước khi đến gần cửa phi-cơ.
– Bác tới Philadelphia có ai đón bác không ?
– Tui nghe nói có ai trong cái hội gì đó ra đón, à mà tui có miếng giấy này cậu ba đọc xem thử họ diết cái gì dzậy, bển họ đưa mà tui chưa đọc.
Ông đưa cho tôi 1 miếng giấy nhỏ bèo nhèo, loại giấy có gạch hàng của học trò, chứng tỏ giấy này gốc từ VN, không phải giấy loại tốt, tôi mở ra đọc. Trong miếng giấy nhỏ chỉ ghi vỏn vẹn là: đến phi-trường sẽ có ông Mục-sư ra đón. Không có số điện thoại hay gì cả.
Suốt lộ trình bay 1:45 phút sang Philadelphia đầu óc tôi cứ nghĩ làm sao giúp cho bác này, vì ông đi hảng Northwest, ông Mục-sư Mỹ hay Việt nào đó ra đón chờ ở cổng của hãng Northwest, giờ ông đi hảng US Air này, 2 hảng ở khác terminal khi xuống máy bay ông sẽ gặp khó khăn nửa. Sau khi đáp Philadelphia thì tụi tôi lại tiếp tục bay xuống Orlando mà thì giờ dưới đất thì quá eo hẹp cho tôi vì thời gian chờ 15 phút trể tại Detroit bay vô đây bị traffic buổi chiều rồi phải làm 2 cái vòng chờ (Holding) trên vùng Lancaster thêm 8 phút nữa, nên thì giờ ở dưới đất tại Philadelphia đối với tôi lúc đó rất ngắn, xem như hể vừa đậu máy bay vô cổng, hành khách xuống hết, hành khách đi Orlando lên xong là đi ngay. Lúc hành khách xuốâng máy bay tôi cũng dẫn bác tới ngay quầy information của hảng, tôi trình bày ngắn gọn với bà Mỹ đen làm ơn liên lạc bên hảng Northwest có ai đón một người Việt Nam tên Thanh thì sang đây..đang khi tôi đang nói thì có 2 vợ chồng người Việt đang bước tới hỏi:
– Phải bác tên Thanh không ?
-Dạ phải, Thanh là tui đây.
-Tôi bên hội cựu quân nhân ra đây đón bác về.
Tôi nghe vậy mừng quá vội nói thank you với bà Mỹ đen, rồi quay sang 2 vợ chồng người Việt nói thật lẹ: cám ơn anh chị đến đúng lúc, nãy giờ tôi lo quá, take care giùm bác này nghen.
Tôi định quay đi thì ông kia hất hàm hỏi tôi với một giọng không được thân thiện:
– Bộ anh người Việt Nam hả?.
Tôi hơi bực mình nhưng vẫn trả lời:
– Dạ phải, rồi ba chân bốn cẵng chạy về cổng. Vừa bước tới cổng lại thấy cái mặt hầm hầm của ông nhân viên kiểm soát vé ổng nhìn tôi như là người tạo ra vụ cất cánh trể giờ này. Thời điểm đó thì hảng đang bị mang tiếng là cất cánh và đến trể (late for on time departure & arriver) so với các hảng khác, nên mấy ông bà này hay đổ thừa cho phi-hành đoàn.( Crew delay) Còn phần của họ thì lo đứng nói chuyện không chịu cho hành khách lên phi-cơ sớm nên các chuyến bay bị trể hoài. Sau khi cất cánh tôi xem lại đồng hồ báo-cáo giờ đóng cửa thì đúng ngay giờ ấn định, không trể 1 phút nào cả. (Giờ báo cáo cho chính-phủ và giờ ăn lương của của phi-hành-đoàn kể từ lúc đóng cửa và mở cửa tại phi-trường đi và đến).
Tháng giêng năm 1992 ba tôi mất bên Cali lúc đó ông cụ 75 tuổi, những ngày cuối đời khi ba tôi được đưa vào bệnh viện tôi vẫn còn đang đi bay phi-vụ 4 ngày, thời đó cũng chưa có Cell. Phone nên hể đáp phi-trường nào là tôi chạy ngay đến điện-thoại công cộng để gọi về Cali theo dõi tình hình, tôi cũng cho người em rể số điện thoại 800 của hảng, số này chỉ dành cho nhân viên phi-hành gọi về trung-tâm “Hành-quân” của hảng. Dặn cậu em nếu có gì khẩn cấp thì gọi về số này, dù anh có đang bay ở trên trời hay bấât cứ phương trời góc biển họ cũng có thể liên lạc và cho anh biết liền.
Trưa ngày 2 tây tháng 1 năm 1992 trên phi-vụ rời phi-trường Pittburgh bay sang St.Louis. Đang khi thủ tục liên lạc với các nhân viên dưới đất để đẩy phi-cơ lui ra khỏi cổng đậu thì được hảng gọi trên tần số :” US Air 1427 cancel your push back ! Let officer Pham go inside and tell him contact his family immediately! “. Nội nghe bao nhiêu đó cũng đủ cho tôi biết tin chẵng lành. Sau khi tôi trở lại ghế lái với đôi mắt đẩm lệ, vị Captain vỗ về nói vài lời an ủi. Ông nói để gọi vô văn-phòng cho pilot khác ra thay thế và tôi có thể về với gia-đình, tôi từ chối và cám ơn lòng tốt của ông, vì chỉ có một mình tôi mà số hành khách 142 người phải ngồi chờ trên 1 tiếng đồng hồ để có người ra thay thế.? Tôi cũng không làm gì hơn được lúc này, trừ ra nỗi buồn về tin mới vừa mất cha cứ ám ảnh tôi suốt chuyến bay. Sau khi tôi đáp ở St. Louis thì hảng tôi gọi báo bây giờ thì hơi trể nên yêu cầu tôi sáng ngày mai bay dùm về lại Pittburgh sẽ có người thay thế. Và tôi sẽ bắt chuyến bay thứ nhì lúc 9:30 sáng sang Orange county (SNA). Sáng ngày hôm sau tôi lên chuyến bay thứ nhì để bay sang Cali, tôi vẫn còn mặc đồng phục mùa đông toàn bộ ( Mùa hè thì chỉ mặc áo sơ mi ngắn tay thôi). Khi bước vào cửa của chiếc B-757, mấy cô tiếp viên hỏi tôi chắc you mới đi bay về mệt lắm hả?.À mà sao thấy you mặt buồn xo vậy?. Tôi nói Ba tôi mới mất nên phải bỏ ngang phi-vụ về Cali chịu tang, vừa nghe xong mấy cổ đều nói sorry chia buồn cho tôi, rồi một cô nắm tay kéo tôi lên phía trước, đẩy vai tôi ngồi xuống ghế First Class. Hồi nãy họ nói chuyến bay này full nên tôi xin ngồi phía sau. Cổ nói you go no where, you sit here !. Ý tôi muốn nói không phải mình ngon lành gì, nhưng tôi cũng cãm thấy ít ra hảng cũng lưu ý đến chuyện gia đình của nhân-viên và dành nhiều ưu tiên cho tôi.
Miền đông nước Mỹ và Cali giờ địa phương sai biệt là 3 tiếng nên khi đáp tại phi-trường John Wayne (Orange County) vẫn còn sớm, anh chị lớn tôi đem xe ra phi-trường đón tôi, trên đường về nhà bà chị dâu hỏi tôi có đói bụng không thì ghé vô đây ăn sáng đặc sản Cali. Tôi nói không đói lắm nhưng nếu anh chị chưa ăn thì tôi ké chút xíu cũng được. Rồi bất thần thấy tiệm diểm xâm Kim-sư hay gì đó trên đường Bolsa, anh tôi quẹo xe ghé ngay vô bãi đậu. Tôi bước xuống xe nhưng hơi ngần ngừ vì đang mặc đồng phục của Airline vô đây ngồi ăn coi kỳ quá, bà chị dâu nói thôi lâu lâu vô ăn đại rồi ra liền, đâu có sao đâu. Lần đó cũng là lần duy nhứt tôi mặc đồng phục của Airline vào nơi công cộng, ngoại trừ ở trong các phi-trường và trên đường đi về các Hotel chung với nguyên phi-hành đoàn thì chuyện thường, bây giờ nghỉ lại thì cũng thấy mình hơi dốt, sao hồi đó không cởi đại áo ngoài rồi lột hết lon lá quăng vô xe , như vậy đi vô ăn có thảnh thơi không ! Vài người ngồi kế bàn nghe họ xầm xì, ê có Pilot airline người mình dzô ăn diểm xâm kìa, làm tôi nghe cũng hơi ngượng, tôi không thấy hào nhoáng gì cho cái bộ đồng phục này và nội qui của hảng cũng không cho nhân viên phi-hành của hảng la cà vào các quán ăn ngoài khuông viên của phi-trường hay lạm dụng đồng phục của hảng để showup. Mấy lần tôi đi dự các đêm không-gian thì cũng có người bạn đã hỏi tôi sao không mặc đồng phục của Airline tới dự cho wai (Oai). Dzậy người ta mới biết mày là Pilot thứ thiệt…tôi chỉ cười trừ trả lời: Dzậy ai tới đây muốn người ta biết mình làm bác-sỹ phải mặc đồ bác-sỹ rồi mang cái ống nghe quanh cổ hả ! Tui thấy có mấy tài xế xe Bus và tài công lái mấy cái tàu nhỏ cũng ăn mặc đeo cầu vai 4 gạch giống y chang như tụi tôi, giả dụ như mấy khứa này tới đây dư,ï có ai dám mặc ba cái đồng phục đó không ? Trên Air line, pilot mang3-4 gạch trên cầu vai hay trên tay áo ngoài là chỉ để phân biệt nhiệm vụ và quyền hạng (duty and authority) trong lúc bay mà thôi. Không phải là cấp bực (ranking) như trong quân đội thành thử hai thứ đồng phục này khác nhau.
Tôi còn nhớ trên 1 chuyến bay từ Philadelphia sang San Francisco, tụi tôi đáp vào buổi sáng khoảng 10 giờ, pilot tụi tôi thì lẹ lắm, hể đậu vô cổng gài thắng chỉ cần 1 phút làm xong checklist là cuốn gói đi ra ngoài liền, và tới chổ chờ cho xe Van của Hotel lại đón, mấy cô tiếp viên thì hơi lâu vì phải đợi bàn giao. Tôi và ông Pilot Mỹ đang đứng xớ rớ ngoài vệ đường chờ các cô tiếp viên đi ra để cùng về Hotel một lượt.
Một xe Mercedes chở bà mệnh phụ nhà giàu nào đó tấp đậu vào chỗ tụi tôi đang đứng, ông tài xế của bả đang khệ nệ mang ba bốân cái va-ly lớn nhỏ để xuống đất sau cốp xe, bà mệnh phụ này cũng không thèm ngó mặt hai đưá tụi tôi là ai, bả biểu hai đứa tôi mang mấy va ly này vào phía trong, tụi tôi đang đứng không, nên thấy bà già này nhờ thì cũng xách dùm mấy đồ lỉnh kỉnh của bả, ông tài xế thì nói tụi tôi đừng làm để đó cho ổng làm, nhưng bà chủ thì nói tao đã nhờ hai thằng này làm dùm được rồi, mày lái xe về đi. Sau đó thì bà móc trong bóp ra” Típ” cho hai đấng Pilot airline này mỗi đứa 1$ đô la! Tôi thì thuộc dân Á châu dễ quê không muốn nhận nhưng thấy ông Mỹ nheo mắt ra hiệu nên tôi cầm lấy như ổng và nói thank you rồi bỏ lẹ vô túi vì sợ thiên hạ thấy. Sau khi nguyên phi-hành đoàn lên xe Van rồi thì ông Pilot Mỹ nói cho 5 cô tiếp viên hay là, ngày hôm nay Khiêm and me và giàu hơn tụi mày 1$, rồi ổng móc trong túi ra tờ giấy 1$ hồi nãy, ông nói tao sẽ đem đồng bạc này về cho vô khung treo trong nhà làm kỹ niệm. Ông chưa kịp giải thích thì bà tiếp-viên già nhứt trong đám phụ họa: hai you mang hia đội mão đứng xớ rớ chờ xe nên người tưởng 2 you là “skycap”( Nhân viên phụ cân hành lý ngoài vệ đường tại phi-trường để kiếm sống bằng tiền Típ) nên họ sai khuân vác dùm hành-lý rồi được tiền Típ phải không ? Tôi hỏi sao bà biết hay dzậy?. Bả trả lời với giọng chọc quê 2 đứa tụi tôi: tui thấy mấy pilot mặc đồng phục màu xanh, đội nón két pi cũng giống như mấy ông skycap kia thôi ! Mấy tháng trước ở New York tui đã thấy có 2 pilot cũng đã khoe mới nhận được tiền típ sau khi khiêng dùm hành lý của hành khách. Nhưng mổi ông được 5$, chắc họ gặp hành khách sộp! Nghe bà già này chọc quê làm tụi tôi cụt hứng.
( Hôm nay có 5 tiếp viên vì bà già này làm supervisor của Flight Attendant nên lâu lâu đi theo để check mấy cô tiếp viên, giống như bên pilot thì lâu lâu cũng có check pilot của hảng hay FAA của chính phủ theo bay bất thần để check tui tôi vạây ).
Làm Pilot cho hảng Airline thì sướng lắm, vài năm đầu có hơi chật vật vì chưa đạt được thứ hạng thâm niên, nhưng sau đó thì cứ đi làm 12 ngày nghỉ 18 ngày và còn ngày nghỉ phép thì cũng nhiều vô kể, hàng xóm cứ thấy tôi ở nhà cắt cỏ dường như mỗi tuần vào những tháng mùa xuân và mùa hè, hồi còn ở khu nhà cũ tụi tôi có một bà hàng xóm người Việt, không biết hồi xưa bà thuộc thành phần nào, nhưng sang đây thì ba hoa chích chòe cũng thuộc loại gộc, bà xã tôi học trường Tây từ nhỏ tới lớn nên đọc và viết chữ Việt đã không rành rồi lại nói chuyện miệng bằng tay, tay bằng miệng thì không tài nào bằng bà này (bởi vậy hồi xưa khi tui đi theo thả dê bà xã tui đang học lớp 11, tui đã viết 1 lá thư tình cho bả, bả đọc tiếng Việt không rành nên bả đem về đưa cho ông già bả đọc dùm..thằng em bả sau đó báo-cáo cho tui hay, làm tui bị đứng tim và muốn độn thỗ luôn…30 năm sau đứa con gái út tui đẻ bên Mỹ tuy nó nói tiếng Việt được, còn đọc chữ thì cũng dỡ như cở bà xã tui hồi xưa, lúc nó học lớp 11 cũng có 1 cậu người Việt gia đình HO mới qua sau này, viết thư tình tán tỉnh nó, nó đọc không hiểu được, nên đem về nhờ tui đọc giùm…100% true story! ) . Một hôm bà xã tôi về kể lại nói bà hàng xóm có hỏi anh làm cái nghề gì mà thấy ở nhà hoài ? Em nói ỗng đi bay vắng nhà vài ba bửa mới về, bà kia bĩu môi nói, xí !Việt Nam mà bay cái gì !.ông xã của chị đi làm ca chùi máy bay thì có. Ai người ta đi làm ở phi-trường thì 5,6 giờ tối thì dề nhà rồi..còn mấy người làm sạch sẽ trên máy bay mới ở lại làm trể..!
Rồi cũng một sự tình cờ, một năm sau tôi thấy chị hàng xóm kia bước vào cửa máy bay chuyến cuả tôi để bay sang New York. Tôi đang đứng ngay trước cửa phòng lái thấy chị bước vào, chị thấy tôi trước nhưng có ý muốn lờ đi, nhưng tôi đã lịch sự lên tiếng nói chào chị Bé, chị đi New York thăm ai dzậy ? Chị trả lời: ốâi, tui đi qua bển thăm mấy đứa bạn mà….rồi dẫy ngẫy bước đi coi bộ không được tự nhiên. Sau này tôi nghe nói chị đã li dị chồng và hiện đang làm bà đồng bà bóng đâu đó bên Cali.
Chuyện bị khen chê cũng thường thôi, nhưng có một chuyện được khen mà tới bây giờ mỗi lần nghỉ tới tôi vẫn còn cảm thấy vui vui…
Khoảng năm 2002 trên một chuyến bay những tuyến ngắn nhưng được nghỉ 1:15 giờ tại căn cứ chính Charlote North Carolina. Buổi chiều hôm đó khi phi-cơ vào đậu ở cổng cánh B của phi-trường, cả phi-hành đoàn phải đi bộ qua Cánh C để gởi đồ đạt trong phòng nghĩ của Phi-hành-đoàn, rồi ai nấy thư thả muốn làm gì tùy ý miễn sao tới giờ thì có mặt trên phi-cơ là được. Đang kéo vali, và cặp bay ngang qua cổng 1B tại phi-trường này, tôi nghe có tiếng đàn bà nói : con con đừng có leo, coi chừng té à ! Biết là người Việt nên tôi tấp vô chào hỏi thì thấy có 2 chị em người Việt khoảng chừng 30+ tuổi đang ngồi trên mấy ghế trống ở đó để chờ bay đến Grenville South Carolina. Hai chị đang chăn 4 đứa nhỏ đang leo trèo chạy giỡn. Một chị thấy tôi ghé ngang hỏi thăm thì cũng lịch sự trã lời là đi thăm ông Nội 96 tuổi đang đau nặng, chắc ổng hỏng qua khỏi kỳ này quá anh ơi. Rồi tôi hỏi có chờ ai nửa không?Đi bao nhiêu người?. Cô em trả lời, nhà tụi này đông lắm, kỳ này coi như về đủ hết, nhà tụi này bên Seatle. Rồi cô chị vừa chỉ tay sang bên vừa nói . Ông già tụi em ngồâi bên kia kìa. Ông cụ ngồi cách hai ba hàng ghế trông chỗ lối vào bên hông nên tôi không thấy. Nghe vậy tôi bèn bước sang để chào ông cụ. Vừa bước gần tới nơi chưa kịp nói một lời chào hỏi thì ông cụ đã vụt đứng lên nhìn tôi một cách sững sờ! ( Tôi không biết dùng chữ như vậy có đúng không).Ông cụ ngó trân vào mắt tôi dường như xem có phải là người quen hay không?, Rồi tôi nghe cụ nói” Cậu à, cậu làm phi-công hả? Cậu lái máy bay phản-lực hả?( Người miền Nam hay gọi bằng Cậu cho thân thiện thay vì anh hay ông) Tôi trả lời Dạ phải, chào bác. Rồi ông cụ vẫn tiếp tục nhìn tôi nói:
– Mà cậu cho phép tôi được bắt tay cậu một cái được không?
Tôi bắt tay ông cụ mà trong bụng nghĩ thầm không biết ông già này làm cái gì mà ghê quá dzậy nè ! Rồi ông bắt tay tôi không những siết thật chặt, còn tay trái ông nắm cánh tay tôi vừa nắn bóp vừa chậm rãi nói:
– Tui được bắt tay cậu bửa nay, tui cảm thấy hãnh diện cho người Diệt mình wá cậu à! Tui wa đây năm 75, mà hồi đó tới giờ tui thấy Bác-sỹ, kỹ-sư người mình nhiều như củi ở trên rừng, còn phi-công người Diệt như cậu tui chưa thấy lần nào à. Đây là lần đầu tiên à cậu ! Tôi nhìn thấy trên nét mặt, ánh mắt của cụ có cái gì thật sung sướng trong đó.
– Mà hồi trước chắc cậu cũng ở trong quân đội ?
– Dạ phải bác, con có phục vụ trong Không-Quân mình hồi xưa, con lái C-130.
-Thưa bác Phi-công người Việt bên Mỹ này lái cho mấy hảng Hàng Không của Mỹ cũng có một 2 người thôi, còn hảng này chỉ có mình con là người Việt bay ở đây. Bác nói không thấy phi-công người mình lái máy bay ở bên Mỹ này thì cũng đúng thôi….
Rồi ông cụ nói cụ có 2 người con hay rễ gì đó cũng làm việc cho hảng làm máy bay Boeing bên Seattle…
– Dzậy chắc cậu cũng có lái máy bay của tụi nó làm ?
– Dạ hồi trướcù tụi con có lái máy bay của hảng Boeing, sau này hảng chỉ dùng toàn máy bay Airbus của Tây làm .
Đang ba hoa chích chòe nửa chừng thì nghe hai cô tiếp viên vừa đi ăn uống xong tạt ngang lên tiếng: It’s time to go boss !
********

Mùa đông năm 1992, có một chuyến bay mà tôi không thể quên được. Đang bay qua miền Tây vào tháng 2 thì chỗ nào cũng nắng ấm . Con bên miền Đông thì vào giửa mùa đông. Chuyến bay này vào ngày thứ sáu, ngay vào trận bảo tuyết đang hành hạ những tiểu ban miền đông Bắc. Vì phải chờ đợi De-Ice (Máy thổi hóa chất làm tan tuyết hay đá trên thân và nhứt là cánh phi-cơ cho sạch sẽ trước khi cất cánh) tại phi-trường Milwaukee, tiểu ban Wisconsin. Tụi tôi đáp trể tại Phi-trường Washington DC lúc 4 giờ chiều thay vì lúc 1 giờ như trong thời khóa biểu, Nó không có gì đáng lưu ý lúc đó, nhưng sau này thì tôi bắt buộc phải nhớ khi Ngài Senator Phản-chiến John Kerry ra tranh cử Tổng thống. Đây là chuyến bay thường lệ hàng ngày từ Washington DC lên Boston, nhưng đặt biệt trong những chuyến bay vào chiều thứ sáu từ phi-trường này đi chỗ khác thì hầu như 99 phần trăm lúc nào cũng có các Ngài thượng-nghị-sỹ hay các dân biểu bay trở về nguyên quán nghỉ cuối tuần. Chiều hôm đó sau khi hành khách lên phi-cơ đầy nhóc không còn một chỗ trống nào, tụi tôi di chuyển ra phi đạo 35 theo sau đuôi khoảng 5 chiếc máy bay khác. Lúc đó đã 6 giờ chiều, mùa đông vùng này thì trời tối hù. Bình thường thì hể trời tốt thì mỗi chiếc sẽ cất cánh cách nhau khoảng từ 30 giây đến 1 phút, nhưng mùa đông thì phải đợi lâu hơn ở cuối phi-đạo, Khoảng 6:10 tối ngày hôm đó sau khi chiếc MD-9 của hảng Delta cất cánh thì tới phiên tụi tôi, nhưng vừa chuẩn bị xong phần chechlist cuối cùng để đợi nghe đài kiểm soát cho lệnh cất cánh thì lại nghe họ nói: “US Airways 1226 please move into the block, your new take off time will be 8:04 PM” ( Us Airways 1226 bạn di chuyển vô khu chờ đợi, giờ cất cánh mới của bạn sẽ là 8:04 PM ). Tôi hỏi lý do, thì được trả lời là Phi-trường Boston thời tiếc xấu nên họ giữ tất cả các phi cơ sẽ bay đến đó phải chờ dưới đất. Hôm nay tôi bay với một ông làm Check Pilot của hảng, hồi xưa ông là cựu USAF như tôi bay AC-130 gun ship bên Thái Land nên ông và tôi nói chuyện tương đắc lắm. Tôi bấm vào máy Acard để xem báo cáo thời tiết hiện tại ở Boston thì thấy ở đó thời tiết tương đối tốt. Đâu có cái gì mà phải bắt tụi tôi nằm chờ đây thêm 2 giờ nửa. Thường thì khi Pilot ngồi bên phải bay thì pilot ngồi bên trái liên lạc với các đài kiểm soát và hành khách trên tần số và hệ thống âm thanh. Tôi mới vừa đáp tại đây hồi nảy, giờ tới phiên ông này bay qua Boston. Sau khi tụi tôi di chuyển vào khu chờ đợi, tắt bớt một máy để tiết kiệm xăng, rồi nói đài kiểm soát là khoảng 5 phút trước khi trung tâm không lưu cho cất cánh thì gọi tụi này một tiếng để quay máy lại. Trên thực tế thì tụi tôi được ăn lương giờ nên chờ lâu chừng nào thì cả phi-hành-đoàn “dzui” chừng nấy, nhứt là mấy cô tiếp viên. Còn hành khách thì ngồâi chờ lâu trên phi cơ nên có khi sanh giặc ! Tuy nói vậy nhưng ông Check Pilot của tôi ngày hôm nay vẫn không chịu ngồi yên, ông xây sang bên tôi hỏi : mày để tao nói vài tiếng với hành khách được không ? Rồi tôi nghe ông nói: Thưa tất cả quí vị, chuyến bay cuối tuần này đáng lẽ đã mang quí vị đến Boston lâu rồi, nhưng vì thời tiết nên phãi bị đình trệ làm quí vị phải chờ đợi và cũng mất đi những thì giờ quí báu với gia-đình…Tôi tưởng ông chỉ nói vài ba câu xã giao để trấn an hành-khách, nhưng sau đó ổng lại phang thêm mấy câu tôi cũng không ngờ. Oâng nói, nhưng mà chuỵên thời tiết thì chỉ là chuyện phụ cho chuyến cất cánh trể tối hôm nay, quí vị biết không mấy cái thằng làm trong các đài kiểm soát không lưu toàn là một lũ vô lại , đáng lẽ chúng ta đã cất cánh nảy giờ lâu lắm rồi, nhưng bây giờ tụi nó lại bắt chuyến bay này phải chờ đây cho đến 8:04 phút mới được rời đây. Tụi nó nói vì thời tiếc ở Boston xấu nên phải giử phi-cơ của chúng ta dưới đất, chúng tôi đã check trong phần khi tượng mới đây thì thấy thời tiết tại Boston tốt. Quí vị nghỉ sao về mấy cái thằng “pin head” (đầu dế) này đang làm cho các trung tâm không lưu và ăn tiền đóng Tax của quí vị ! Chính cái đám vô lại này đã bắt quí vị chờ đợi từ 2 giờ chiều đến bây giờ !
Rồi ổng quay sang tôi nói, tao phải chưởi cho đã cái miệng vì tuần tới tao “retire” rồi có thằng nào kiện thưa tao thì cũng phải năm ba tháng nửa, lúc đó đâu có ai làm gì được tao, FAA cũng không rút cái Pilot licence của tao được….mày hiểu không ?.
Chừng 1 phút sau tôi nghe có tiếng gõ cửa của cô tiếp viên, tôi bấm nút mở khóa cho cô vào, cô này cầm vô 1 tấm Business card. Tụi tôi cầm đọc phía sau có hàng chữ viết tay: Can your guys find out the name of the traffic controller …. Lật sang mặt bên kia tụi tôi đọc thấy hàng chữ màu đen đậm: John Kerry . Senator.
Tôi sang tần số của hảng nói họ gọi dùm lên đài kiểm soát không lưu hỏi tên của nhân vật này, vì có ông thượng nghị sỹ Kerry trong tàu muốn biết tên. Khoảng 5 phút sau trên màng ảnh computer hiện lên tên của người này. Tụi tôi lấy viết ghi tên tiếp sau tấm card rồi đưa lại cho cô tiếp viên. Chừøng 30 giây sao lại nghe cô này gọi; Mà ổâng hỏi có dùng được Cell phone không?. Tụi tôi nói ổng cứ việc tự do dùng thả dàng… Tiện đây tôi cũng xin giải thích chút đỉnh về việc dùng cell phone trên phi-cơ, để quí vị hiễu rằng tại sao khi cửa phi cơ đóng lại thì được yêu cầu tất cả hành khách phải tắt Cell phone ? Thật ra cái Cell phone của chúng ta đang dùng không có ảnh hưởng gì đến các tần số hay làng sóng phát tuyến cao thấp dùng cho các dụng cụ điện tử của phi-cơ cả. Cái này liên quan đến vấn đề an-phi (flight safety) mà thôi. Luật của chính phủ là mỗi lần trước khi phi-cơ di chuyển cất cánh, tất cả các loại phi-cơ lớn nhỏ chuyên chở hành khách thương mại (commercial) đều bắt buộc phải thuyết trình về cách xữ dụng tháo mở nịt an toàn, chỉ dẫn các cửa thoát hiểm, cách dùng hệ thống dưỡng khí trong các trường hợp nguy cấp (emergency danh từ mà VC gọi là = sự cố, tui chả hiểu sự cố là cái chó gì cả )v.v…Thành thử nó đòi hỏi sự chú ý của hành khách về vấn đề chỉ dẫn an toàn này, mặc dù có người chú ý có người không, các cô tiếp viên vẫn phải làm nhiệm vụ của họ, nếu không có vụ cấm đoán này thì bên trong phi-cơ sẽ như cái chợ, mạnh ông ông nói mạnh bà bà la thì trong trường hợp rủi có gì xãy ra..sẽ không có ai nghe hiệu lệnh gì cả. Như vậy sự an-toàn của chuyến bay sẽ gặp nhiều trở ngại. Đó là lý do chính tại sao hành khách không được dùng cell phone trên phi-cơ.
Sau đó chừng 2 phút tụi tôi nghe đài kiểm soát gọi nói có thể quay máy và được phép cất cánh khi nào sẵn sàng…Vậy là tụi tôi cất cánh ngay sau khi làm xong mọi thủ tục và trên đường bay sang Boston. Bay từ phía nam đến Boston thì lần nào cũng như lần nấy, tất cả phi-cơ đều phải làm vòng chờ trên đài phát tuyến không hành (VOR) ngay trong vòng đai của phi-trường Provident, của tiểu ban Rhoder Island, giáp giới với tiểu ban Massaschutset. Lúc đang bắt đầu vào làm vòng chờ để đợi tới phiên vào đáp ở Boston, thứ hạng của tụi tôi là hạng 15, bay trên cao độ 27 ngàn bộ. Có nghĩa là bên dưới tụi tôi còn 14 chiếc phi-cơ nửa đang làm vòng chờ nảy giờ. Bay máy bay tân tiến thì sướng lắm ( bạn nào là pilot thì sẽ hiểu liền về cách thức entry vào làm vòng chờ =holding). Pilot cứ nhấn trên keyboard của computer tên của điểm mình đã được chỉ định vào làm vòng chờ, rồi bấm chữ Holding. Vậy là xong, phi-cơ sẽ tự độâng tìm đến điểm đó rồi vào làm vòng chờ một mình, auto pilot sẽ tự động điều chỉnh hướng gió và tốc độ, bảo đảm không bao giờ bay trật hướng. Pilot cứ ngồi đó rung đùi hút gió chờ tới phiên được gọi cho xuống cao-độ hay chuyển hướng bay.v.v..
Chưa kịp nhìn xem auto pilot sẽ vào làm vòng chờ kiểu gì đây thì tụi tôi được đài không lưu tại Boston gọi: “US Airways 1226 turn left heading 270 and clear to decend to 10 thousand feet” ( US Airways 1226 bạn quẹo trái hướng 270 độ và được phép bay hạ xuống 10 ngàn bộ). Vậy là tụi tôi đang ở hạng 15 tự nhiên được qua mặt tất cả mọi người leo xuống dưới để chuẩn vào đáp tại Boston. Từ lúc bay vào làm vòng chờ cho tới lúc này thì tụi tôi đã nhìn thấy ánh đèn của vùng Boston, bây giờ thì thấy rõ phi-trường ở khoảng 30 dặm nhìn từ phía tây nam, vậy sao mấy ông trên đài hồi nảy ở Whashington D.C dám nói là Boston thời tiết xấu, không cho tụi này cất cánh sớm còn bắt chờ thêm 2 giờ đồng hồ nửa ?. Sau khi đáp ở Boston hành khách được về đến nhà ai nấy tuy bực mình nhưng cũng đã đến bến an toàn. Tụi tôi còn ngồi trong cockpit làm check lish thì ngài Kerry hiện ra sau cánh của phòng lái, ổng nói cám ơn tụi tôi đã mang ông về đây, tôi còn nhớ câu nói của ổng “ I’m also a flyer, so I understand the difficulty what your guys have…some time I have to abused my power!” ( Tôi cũng là dân bay, nên tôi thấu hiễu nhưng khó khăn của mấy anh…nhưng đôi khi tôi cũng phải lạm dụng quyền hạng của mình). Có nghĩa là hồi nảy khi ổng xin tên tuổi của ông kiểm soát không lưu, ổng đã dùng cell phone gọi cho “thẩm quyền” của mấy ông kia đễ mạ lỵ, mạc sát gì đó nên tụi tôi mới được cất cánh ngay và khi đến Boston còn được ưu tiên bay qua mặt thiên hạ vào đáp trước. Lúc đó tôi không biết nhiều về khứa lão Kerry này, chỉ biết lờ mờ là hồi xưa trong chiến tranh Việt Nam khứa ở trong Hải Quân, nên khi nghe giả nói “I’m also a flyer..” tôi nghĩ là già này xưa kia chắc là Pilot bay cái thứ gì đó trong Hải-Quân…mãi cho đến năm 2004 khi tên bạn của Jane Fonda phản chiến này ra tranh cử Tổng thống, tôi mới vỡ lẽ ra là khứa này chỉ là một gã “ lái đò” swiftboat của Hải quân Hoa kỳ!..
*****
Tôi viết đến đây chắc tạm đủ kể quí đọc giả nghe những chuyện dài lẫm cẩm của tôi một thời 29 năm đã vùng vẫy trên khoảng không gian mà tôi không thể gọi nó là “bầu trời quê hương” được, mặc dù thời gian tôi đã sống ở đây, bay ở đây nhiều hơn từ lúc lớn lên cho đến khi bỏ nước ra đi !
Nếu quí đọc giả nào có điều gì phàn nàn, không vừa ý trong bài viết của tôi xin quí vị kiện “ông chủ báo”, có ai thắc mắc gì xin vui lòng viết thư hay E-mail hỏi “sỹ-quan trực”, mấy ông này biết hết, biết hết. . .!
Xin hẹn lại kỳ khác nếu bịnh làm biếng của tôi không tái phát !

Pilot Lăng cha cả
Herky 482

(Dayton ,Ohio Tháng 8,2007)

April 4, 2015 Posted by | * Truyện | Leave a comment

Bún Bò Bà Đào – Đà Nẵng

Bún Bò Bà Đào – Đà Nẵng

Kính dâng lên hương hồn ông bà Đào. Kính tặng Quý Niên trưởng, các chiến hữu thuộc Trung Tâm 2 Kiểm Báo và Sư Đoàn 1 Không Quân (Đà Nẵng). Xin được gửi đến bà con Đà Nẵng thân yêu của tôi.

Trước năm 1975. Đà Nẵng có rất nhiều nhà hàng, quán ăn. Nhưng nói đến món bún bò, thì những người có tâm hồn ăn uống. Chắc chắn cũng đôi lần ghé thăm quán bún bò của Bà Đào! Có lẽ lâu ngày thành thói quen, Bà con gọi tên quán là Bún Bò Bà Đào? Đơn vị tôi ở mãi tận Sơn Trà. Muốn đi sang Đà Nẵng, phải đi bộ hay quá giang xe nhà binh ra ngã ba Sơn Trà. Sau đó đón xe Lam hay xe Đò đến bến đò An Hải. Từ đây đi phà sang bên kia sông Hàn, mới tới phố Đà Nẵng. Mặc dù cách xa nhiều cây số. Phải mất khá nhiều thời gian. Nhưng tuần nào tôi cũng ghé Bún Bò Bà Đào một, hoặc hai lần thì mới mãn nguyện. Dẫu cho hôm đó trời mưa to, gió lớn, bão bùng cũng không bao giờ tôi lùi bước trước nguy nan. Đơn giản một điều “chỉ vì ghiền bún bò.”

Quán Bún Bò Bà Đào nằm trên đường Trần Bình Trọng, gần Café Rừng với mấy cái mả đá màu nâu ở đầu đường. Quán chỉ bắt đầu bán vào khoảng 3 giờ chiều. Thực khách ghiền bún bò thường phải đợi rất lâu, vì quán lúc nào cũng đông khách đứng sắp hàng chờ. Nếu không chờ được thì đi các quán khác cũng nằm gần đó.

Bà Đào có nét lai Ấn Độ, các cô con gái của bà cô nào nhìn cũng đều có nét duyên dáng, dễ thương, trong đó có một em tên Đ.. là đẹp nhất, theo con mắt thơ ngây, chỉ biết nhìn thôi, chẳng biết gì của tôi! Lúc đó em Đ..đang học lớp Đệ Tam Trường Trung Học Tư Thục Phan Thanh Giản, tọa lạc kế bên trường Trung Học Công Lập Phan Chu Trinh. Nghe nói, em Đ..bây giờ đã lập gia đình. Tháng 10, năm 1992. Trước khi rời Sài gòn đi định cư Hoa Kỳ theo chương trình H.O. Tình cờ tôi gặp em ở gần Bệnh Viện Nguyễn Văn Học -Bình Thạnh (Gia Định). Hai đứa chỉ kịp vẫy tay, vẫy tay chào nhau một lần cuối, không kịp một lời từ giã.

Nổi tiếng nhất của quán Bún Bò Bà Đào là món giò móng. Tôi đã chết mê, chết mệt vì nó. Đặc biệt là món ớt sa tế và ớt ngâm giấm, mà không nơi nào có thể sánh bằng. Tô bún bò nóng hổi, vừa ăn, vừa húp, vừa thổi, vị nồng nồng, cay cay làm nước mắt ràn rụa. Nhất là những hôm trời se se lạnh, có một chút mưa bụi vào những tháng cuối năm thì thật tuyệt vời.

Nhiều khi trong bóp hết tiền, cầm thẻ lương chưa được, hoặc Sĩ Quan Thủ Quỹ Sư Đoàn 1 Không Quân là Trung úy HBT, hay Sĩ Quan Kế Toán là Thiếu úy TVH, biệt danh “Thượng Toạ Thích Tâm Cự”, có chuyện bực trong mình không chịu phát sớm. Lúc đó gương mặt giả bộ mếu máo, năn nỉ, xin bà cho ăn thiếu. Bà lúc nào cũng vui vẻ chấp thuận cho một tín đồ trung thành bún bò, mà không thắc mắc gi cả! Thường thường, mỗi tô chỉ được trang điểm một cái móng. Riêng tôi, thì được bà luôn luôn cho ba, hoặc bốn móng, mà chỉ tính giá bình thường. Có lẽ bà thương hại cho một tín đồ bún bò đã bỏ công khổ nhọc lặn lội trèo xe Lam từ Sơn Trà, vượt bến đò Sông Hàn, và cuốc bộ mấy chục phút mới đến được quán của bà?

Tôi tu ở núi Sơn Trà gần 3 năm. Tính tới, tính lui trên hai bàn tay thì tôi đã thưởng thức món bún bò giò móng không biết bao nhiêu lần! Khi có lệnh thuyên chuyển về Sàigòn, tôi cứ lưỡng lự, vì nghĩ rằng sẽ không còn được tiếp tục thưởng thức Bún Bò Bà Đào nữa! Cũng như mỗi lần ngồi ăn bún bò, được ngằm các con gái bà mà biết bao chàng trai tứ xứ bị ngây ngất, trong số đó có các bạn khoá 7/68 KQ và tôi. Cuối cùng, tôi cũng phải giã từ Đà Nẵng thân yêu mà trong lòng bịn rịn, với một nỗi buồn khôn nguôi. Không biết là tại thèm bún bò, hay nhớ các con gái xinh đẹp của bà?

Năm 1979, khi được về phép từ Nông Trường Đức Huệ – Long An, nằm giáp biên giới Cambodge. Tình cờ, tôi gặp bà Đào và em Đ.. đang đứng ở bến xe đò Chợ Lớn Mới. Tôi chạy đến chào. Bà nhận ra tôi ngay; dù da dẻ tôi lúc này đen đúa, ẩm mốc mùi phèn. Tóc tai thì dài bờm xờm, lưng đeo balo dính đầy bùn đất, hai tay khệ nệ hai cái “len” là dụng cụ dùng để đào đất đắp nền nhà và đào kinh. Nhìn tôi giống như tài tử đóng vai chánh trong phim “Zimbo” về thành.

Bà cho biết bây giờ đã giải nghệ bún bò và chuyển sang đi buôn chuyến Đà Nẵng & Sài gòn. Bà cũng vừa mới tạm nghỉ đi buôn vì bị thương, sau tai nạn lật xe đò ở Cam Ranh. Tôi cho bà địa chỉ nhà tôi. Thỉnh thoảng bà và em Đ.. vào Sài gòn giao hàng đều ghé nhà thăm tôi. Lúc này tôi đã là “Thầy Giáo, Tháo Giầy” bất đắc dĩ. Dạy học để che mắt thế gian! Mỗi lần ghé thăm, bà thường cho tôi mấy chục tré. Đây là một đặc sản của Đà Nẵng, giống như nem Thủ Đức, nhưng có bỏ thêm riềng thái chỉ, trộn nhiều tỏi, được gói vuông vắn trông rất đẹp mắt. Trước năm 1975, Tré Bà Đệ sản xuất ở số 53 Nguyễn Hoàng, gần Bệnh Viện Đa Khoa Đà Nẵng nổi tiếng là ngon nhất, với hương vị đặc trưng không nơi nào bắt chước được.
Bà kể cho tôi nghe khoảng giữa tháng 3 năm 1975. Trong lúc tình hình chiến sự Vùng 1 đã bắt đầu giai đoạn căng thẳng. Nhờ quen biết với một Trưởng Phi Cơ của một phi đoàn thường biệt phái công tác ở vùng 1 và 2. Một nửa gia đình bà đã theo phi cơ AC-119K vào Sàigòn trước. Bà liền thuê một căn nhà ở vùng Lăng Cha Cả để tạm trú. Nhưng sau đó bà quyết định không di tản ra nước ngoài và quay trở về sum họp cùng toàn thể gia đình. Bà cùng các con tiếp tục khôi phục lại quán bún bò. Được một thời gian ngắn, phải tự động dẹp quán, vì tình hình kinh tế khó khăn, bà con phải lo chạy gạo, kiếm cơm hàng ngày chưa đủ, thì làm sao dám ăn với uống ở ngoài được; chưa kể thuế má cao và nhiều phức tạp khác. Nên bà và các con chuyển sang đi buôn chuyến Đà Nẵng – Sài gòn và ngược lại.

Gần Tết năm Nhâm Tuất 1982, bà và em Đ.. vào Sàigòn để giao hàng và mua sắm. Không hiểu sao lần này bà ghé nhà tôi lâu hơn? Tình cờ bà hỏi tôi:”Cháu định bao giờ mới lập gia đình. Khi nào cháu lấy vợ nhớ báo cho bác biết, để bác mừng nghen.”

Im lặng một hồi lâu. Tôi trả lời bà: “Thưa bác, cháu không hộ khẩu, không nghề nghiệp, còn tương lai đang ở cuối nẻo đường hầm thì làm sao nuôi nỗi vợ con, mà bày đặt đám cưới, với đám xin. Ai mà gả con cho cháu là họ muốn làm khổ đời con gái họ. Chắc cháu ở vậy suốt đời thôi !“ Đến đây. Bà không nói gì thêm, kéo tay em Đ.. đứng dậy và chào tôi ra về. Đó cũng là lần cuối tôi gặp bà.

Tôi muốn viết thêm nhiều tình tiết éo le nữa, nhưng xin tạm dừng ở đây. Theo lời mấy bà con Đà Nẵng ở San José cho biết. Bà đã mất cách đây vài năm. Họ cũng cho biết thêm, một trong các con gái của bà hiện đang tiếp tục nối nghiệp bún bò. Tôi tin rằng dù chất lượng đến đâu, cũng không bao giờ còn đầy đủ hương vị đậm đà như thuở nào.

Mỗi lần ở San José có họp mặt đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng, tôi đều đến tham dự, tự coi mình là đứa con thân yêu của Đà Nẵng. Tôi xem Đà Nẵng là quê hương thứ hai của tôi. Một nơi đã cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp. Đặc biệt món giò móng của Bún Bò Bà Đào, cũng như tuổi trưởng thành của tôi cũng bắt đầu từ nơi đây. Hy vọng một ngày rất gần, tôi sẽ về thăm Đà Nẵng và sẽ tìm mọi cách để tìm gặp các con của bà, Chắc là bây giờ có người đã lên chức bà nội ,hay bà ngoại? Tôi muốn được đốt một nén nhang để nhớ đến bà, một bà Mẹ Đà Nẵng thân yêu, mà món giò móng độc đáo do bà nấu. Tôi không bao giờ tìm lại được ở bất cứ nơi chân trời góc bể nào, cho dù tôi có tiền muôn, bạc biển…

Cứ hai năm, tôi về Sàigòn một lần để thăm thân mẫu tôi đã ngoài 90 tuổi đang sống ở đây. Bà nằm một chỗ đã lâu, sau khi bị té gãy xương hông. Bà may mắn được các con cháu gần bên thay phiên chăm sóc, lo lắng, nên tuổi già cũng phần nào đỡ tủi thân. Mỗi lần tôi về thăm. Bà dường như khoẻ hẳn ra.

Về Sàigòn lần này, ngoài việc thăm thân mẫu, tôi nhất quyết đi Đà Nẵng như đã dự tính. Thứ nhất là thăm lại môt nơi đã mang đến cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên trong đời quân ngũ. Thứ hai là được đốt một nén nhang trước bàn thờ bà Đào như lòng đã tự hứa. Tuy nhiên, về đến nơi bề bộn đủ thứ việc, do đó tôi không thể rời Sài Gòn được và trong lòng tôi rất áy náy, bức rức vì không thực hiện đúng như lời đã hứa.

Còn một tuần trước khi tôi về lại San José. Hôm đó là cuối tháng 07, năm 2008. Bầu trời Sài gòn mây mù và u ám, thỉnh thoảng có môt chút mưa bụi rơi nhẹ. Tôi đạp xe đạp rời nhà từ Tân Định đến Công Viên Tao Đàn để xem các em Hướng Đạo Việt Nam sinh họat ở đây.
Hướng Đạo là một phong trào giáo dục rất hiệu quả, đào tạo thanh thiếu niên trở thành những công dân tốt và hữu dụng cho đất nước, các hướng đạo sinh biết rèn luyện cho chính bản thân, cũng như giúp ích cho xã hội mà trước năm 1975 từ Sài gòn đến hầu hết các tỉnh, thành phố rất là phổ biến. Một câu nói mà anh chị em Hướng Đạo không bao giờ quên trong đời “ Hướng Đạo một ngày, là Hướng Đạo mãi mãi..” Để nhận ra nhau anh chị em hướng đạo chào nhau bằng cách giơ cao bàn tay phải lên, ba ngón giữa thẳng, nhắc nhở Hướng Đạo Sinh về ba điều của lời hứa: “Làm bổn phận đối với Tín Ngưỡng Tâm Linh và Quốc Gia tôi – Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào – Tuân theo Luật Hướng Đạo”. Ngón tay cái đè lên ngón tay út, ngụ ý rằng người mạnh phải có bổn phận bênh vực, che chở ngưới yếu, kẻ thế cô, người lâm hoạn nạn hoặc đang gặp khó khăn. Ngoài ra, anh chi em Hướng Đạo khi gặp nhau ở bất cứ nơi đâu còn bắt tay trái, vì tay trái là phía của trái tim, để biễu lộ tình cảm thắm thiết, thân thiện giửa tình hướng đạo với nhau và sẳn sàng giúp đỡ nhau khi hữu sự.

Sau ngày 30 tháng 04, năm 1975 phong trào hướng đạo hoàn toàn bị triệt để cấm. Hiện nay, chính quyền không cấm và cũng không cho phép chính thức hoạt động. Các đoàn Hướng Đạo thường tập họp ở các công viên trong thành phố để sinh hoạt vào mỗi Chúa Nhật. Nhìn các em hồn nhiên vui đùa, ca hát, tập thắt gút dây, thực tập truyền tin Morse, Sémaphore, cùng các trò chơi lành mạnh khác.Tôi như tìm lại được hình ảnh của mình thời thơ ấu, mà tôi tưởng như đã đánh mất từ lâu.Tình cờ, tôi gặp một người đứng kế bên. Qua trao đổi vài câu chuyện xã giao, nghe anh phát âm giọng Đà Nẳng, tôi đến bắt tay chào làm quen. Anh cho biết, hiện đang làm việc ở Đà Nẵng, mấy hôm nay vào Sài gòn thăm bà chị ruột từ Pháp về, vi bà chị không có nhiều thì giờ ra ngoài nớ. Hôm nay bà chị hẹn gặp ở công viên Tao Đàn, nên đến đây đợi, thấy các em mặc đồng phục, sinh hoạt ngồ ngộ, nên hiếu kỳ đến xem cho biết. Sau đó anh hỏi tôi có biết gì về Đà Nẵng không? Tôi trả lời anh, ngày xưa tôi đã từng phục vụ gần ba năm ở Trung Tâm 2 Kiểm Báo tức Đài Radar Sơn Trà – Đà Nẵng – KBC 6526. Còn được gọi là Panama, Monkey Mountain hay Núi Khỉ, vì nơi đây có rất nhiều khỉ, chúng thường di chuyển từng đàn mấy chục con, đặc biệt là trên mình chúng có những đốm màu xám, nâu, vàng… mà dân địa phương gọi là con Vá Hoàng.
Đơn vị tôi đóng trên núi Sơn Trà. Quanh năm, suốt tháng mây mù bao phủ. Có nhiều con suối nhỏ chảy dài từ trên cao xuống, với những cái tên rất thơ mộng: Suối Tình, Suối Mơ, Suối Mộng, Suối Hẹn Hò, Suối Đa Tuyền, Suối Tiếc Thương.. Nghe đồn có đôi tình nhân trẻ vì gia đình cấm cản. Họ đã đến đây cùng chết, để giữ trọn lời thề chung thủy?

Những tháng vào mùa hè, đường đi lên núi, phía bên phải là sườn núi với bông trang nở đỏ rực, còn bên trái là vực sâu, hoa sim tím mọc ngút ngàn, và trên cao ánh nắng mặt trời xuyên qua những lớp sương mù bay lơ lững, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp hữu tình, mà các hoạ sĩ, dù tài ba đến mấy cũng không thể nào vẽ được.

Sơn Trà cách Đà Nẵng khoảng hơn 10 cây số đường chim bay. Tuy nhiên, tuần nào tôi cũng đểu ghé Bún Bò Bà Đào, để thưởng thức cho bằng được món bún bò đặc biệt này. Chỉ có một lần duy nhất, suốt một tuần lễ tôi phải nằm ở Sơn Trà tử thủ vì trận bão Hester thổi qua Đà Nẵng, trước sinh nhật tôi một ngày. Tôi nhớ hôm đó là ngày Thứ Hai 25 tháng 10, năm 1971. Đây là trận bão lớn nhất chưa từng xảy ra trong vòng 27 năm. Trận bão đã gây thiệt hại vô cùng khốc liệt cho thành phố thân yêu của tôi. Nhiều nhà cửa đổ nát hoang tàn, bay cả nóc, cây cối tróc gốc gãy nghẽn cả đường xá, xe cộ không thể di chuyễn được, mọi sinh hoạt hàng ngày bị tê liệt hoàn toàn, nên tôi đành phải nằm tại phòng ở Sơn Trà ăn mì kim chi Đại Hàn để tưởng nhớ đến Bún Bò Bà Đào và cầu xin ơn trên che chở cho quán của bà, cũng như bà con Đà Nẵng tránh được thiên tai này.

Anh cười và nói với tôi “Vậy anh là đệ tử trung thành của bà Đào rồi!” Tôi mới nói với anh, dù bây giờ xa Đà Nẵng đã nhiều năm, bước chân tôi đã đi qua nhiều nơi, thưởng thức biết bao món ngon vật lạ trên cõi đời này, nhưng tôi vẫn không thể quên được hương vị đặc biệt của Bún Bò Bà Đào ngày nào. Tôi hỏi anh có biết bà Đào không? Anh cho tôi biết bà Đào đã mất từ lâu! Nghe đâu khoảng tháng 2, năm 2001? Hiện nay cô con gái út của bà đang là chủ một quán bún bò nằm trên đường NCT, thành phố Đà Nẵng. Quán vẫn lấy tên là Bún Bò Bà Đào. Tôi hỏi thêm “Anh có cách nào giúp để tôi có thể liên lạc được với các con của bà không?” vì tôi không còn nhiều thời gian lưu lại Sàigòn, và có lẽ khó còn dịp nào khác nữa!
Anh bảo tôi chờ một chút. Sau đó lấy điện thoại cầm tay gọi ra Đà Nẵng. Vài phút sau, đứa em gái của anh gọi vào cho biết, vừa mới gọi tới quán bún bò và họ cho số điện thoại của một trong các con của bà đang sinh sống ở Sàigòn. Thú thật, tôi mừng vô hạn, tưởng chừng như tìm lại được một báu vật đã thất lạc từ lâu! Tôi vội vàng cám ơn anh và gọi ngay số điện thoại mà em gái anh vừa cho.

Đầu dây bên kia là một giọng nữ. Cô hỏi “Làm sao tôi có số điện thoại này?” Tôi trả lời“ Tôi muốn nói chuyện với con bà Đào, vì tôi là chỗ thân tình với gia đình bà từ lâu.”

Cô cho biết tên Đ.. Tôi nhận ngay ra một giọng nói rất quen thuộc ngày nào, dù đã nhiều năm xa cách. Tôi giới thiệu tên tôi, nói lên ước nguyện của tôi là muốn được đến đốt nhang trước bàn thờ bà Đào một lần vì nghe bà mất cách đây nhiều năm. Nay có dịp về Sài gòn, nên phải thực hiện cho được lời đã hứa.

Đ.. cho tôi địa chỉ ở Cây Quéo – Bình Thạnh. Tôi vội tìm đến nơi ngay chiều hôm đó. Tôi gõ cửa mà trong lòng hồi hộp vô cùng. Một lúc sau, có tiếng lách cách tra vào ổ khóa. Em Đ..ra mở cửa sắt. Em ngước nhìn lên, ngạc nhiên vì không ngờ tôi xuất hiện bất ngờ nơi đây. Cả hai ôm chằm lấy nhau vì quá mừng rỡ. Tôi đã gặp lại em Đ.. bằng xương bằng thịt, nét duyên dáng vẫn như thuở nào, dù hương thời gian đã làm em thay đổi rất nhiều, Bao nhiêu năm rồi, chứ đâu phải mới hôm qua? Sau đó em mời tôi đi lên lầu, nơi đây đặt bàn thờ bà, để tôi được đốt một nén nhang cho thoả lòng mong ước từ lâu.

Cầm nén nhang trên tay. Tôi chúc Bà được an nghỉ nơi cõi bình yên và khấn nguyện “Xin bà có linh thiêng, hãy phù hộ cho các bạn tôi và tôi, những người đã từng thưởng thức món bún bò độc đáo do bà nấu, luôn luôn an bình trong cuộc sống khó khăn hàng ngày, biết thương yêu và giúp đỡ nhau khi cần thiết.”

Tôi kể cho em Đ.. nghe, trước khi về thăm Sàigòn, tôi có viết một bài về ” Bún Bò Bà Đào” để tặng các bạn tôi, những người trai trẻ trưởng thành trong chiến tranh, từng phục vụ ở vùng địa đầu giới tuyến, với những lần vào sanh ra tử, và đã từng biết hương vị Bún Bò Bà Đào. Ngoài ra, bà Đào còn có những cô con gái thanh tú, đoan trang, trong số đó có em Đ.. đang ngồi nói chuyện trước mặt tôi. Em đã làm biết bao đấng anh hùng, hào kiệt khắp nơi một thời ngắm nghía, trong số đó dĩ nhiên là có tôi! Mỗi lần anh chàng nào đến quán, ít ai ăn một tô, thường thường là kêu hai tô. Riêng tôi, ngoài hai tô như thường lệ, tôi còn gọi thêm một tô đặc biệt mang về Sơn Trà, để dành cho sáng mai điểm tâm.

Em hỏi vì sao tôi biết Mạ mất. Tôi trả lời là do các bà con Quảng Nam Đà Nẵng nói lại, khi tôi đến tham dự họp mặt đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng được tổ chức ở San José. Tôi vẫn mong ước được đốt một nén nhang trước bàn thờ bà để tưởng nhớ đến bà, vì tôi xem bà như bà Mẹ thứ hai trong đời. Em nghe tôi nói, mà hai hàng nước mắt rưng rưng. Tôi vội đưa khăn tay cho em lau. Em nói trong thổn thức. Bây chừ, ước chi Mạ em còn sống để nhìn thấy anh và được nghe những lời anh nói, thì hạnh phúc biết chừng nào!

Sau đó em đã kể cho tôi nghe về những khó khăn, gian truân mà gia đình em đã gặp sau cơn đại hồng thủy. Em nói, thỉnh thoảng bà vẫn nhắc đến tên tôi, không biết bây giờ tôi trôi dạt nơi mô? đã có vợ con gì chưa? hay là chọn kiếp không nhà, mùa đông thiếu chăn êm ? Tôi rất mừng, khi được em cho biết bây giờ cả gia đình đều có cuộc sống tương đối ổn định. Tất cả anh chị em đều có công ăn việc làm tốt đẹp, cơ ngơi đàng hoàng. Riêng, người con gái út tên H… đang nối nghiệp bún bò của bà. Quán vẫn được bà con thương tình đến ủng hộ như ngày xưa.

Chia tay em về. Trong lòng tôi cảm thấy lâng lâng, thoáng một nỗi buồn man mác. Tôi vừa đi, vừa khẽ hát nho nhỏ trong cơn mưa lất phất của buổi chiều Sàigòn.

Thuở ấy có em anh yêu cuộc đời,
Yêu đôi môi hồng điểm nét son tươi.
Yêu đôi tay ngà làn má thắm, tóc xanh buông lả lơi,
Nhớ em nhớ bao thuở ấy.
Thuở ấy có em anh chưa từng sầu,
Chưa đi âm thầm ngoài phố đêm thâu.
Chưa mang hoang lạnh ngoài bến vắng,
Hỡi em em về đâu, cho đời mình luôn nhớ nhau.

(Thuở Ấy Có Em – Nhạc Sĩ Huỳnh Anh )

Tôi nguyện trong lòng. Lần tới về Sàigòn, dù bân rộn đến đâu tôi cũng phải đi Đà Nẵng. Tìm đến quán bún bò của con gái bà, để quay về với kỷ niệm ngày nào. Kỷ niệm của một thời hồn nhiên và tuyệt vời nhất, mà bây giờ chỉ còn trong tiềm thức.

Trần Đình Phước
(San José – California 2014)

March 24, 2015 Posted by | * Truyện | | Leave a comment

Câu chuyện đầu năm

Câu chuyện đầu năm

Đầu năm, ảnh hưởng bởi những cơn bão tuyết từ miền bắc, nhiệt độ ở Atlanta xuống tới mức âm 10 độ. Mấy ngày qua, sau vài cơn mưa giữa khuya, cây lá trên cành còn đẩm ướt, cái lạnh bất thình lình khiến cả không gian như đóng băng. Cỏ cây, cành lá và những búp non trên cành đều hoàn toàn đông thành nước đá. Sáng nay, ngày đầu năm mới tôi lái xe đi làm, ngẩn ngơ với vẻ đẹp huyền ảo của cảnh vật bên ngoài. Hai bên đường là những hàng cây trong suốt như pha lê, ánh sáng từ những cột đèn đường làm cho khung cảnh thêm lung linh, đẹp không thể tả. Một người bạn Mỹ của tôi đã ngắm phong cảnh bên ngoài qua khung cửa sổ văn phòng làm việc của tôi và nói: Tuyệt vời, tôi nghĩ cảnh ở thiên đường trên kia chắc cũng chỉ đẹp đến vậy thôi!. Mời đọc tiếp…

March 2, 2015 Posted by | * Truyện | 2 Comments

Giời ạ!

Giời ạ!

Sau những năm gọi là “giải phóng”, đâu đâu cũng đói kém, quê tôi cùng chung số phận. Có người mất hết cả chồng con điên loạn đi lang thang đâu đó, người thì ở nơi xa tới mong đất này có lành để nương đậu. Nhiều thứ tài sản bị tịch thu mà chỉ trời mới hiều. Ai mượn ngân hàng trước “giải phóng” sẽ được truy ra để trả còn cho ngân hàng mượn thì quên đi. Hàng hóa thông thương là bị bắt, có giấu chỗ nào, cách nào cũng bị mò ra được. Có người tài sản chỉ vài rổ khoai rồi cũng mất, nghèo càng nghèo bạo. Đất đai ruộng vườn bắt vào hợp tác xã hết, đói rã nanh mà tối nào cũng điểm với danh. Điên lên, đám con chiên ngoan đạo giờ hết muốn ngoan, nổi máu côn đồ hè nhau nghỉ làm, đi ăn trộm. Mít, xoài, chuối, ổi, mì, khoai… trộm tuốt luốt. Mảnh vườn đó xưa là của mình giờ là của hợp tác xã gì đó không hiểu, không làm thì đói mà làm cũng  đói. Thôi thì… Bị bắt thì vào xà lim ngồi vài ngày lại ra, ra vào xà lim mà cứ nườm nượp như đi chợ, chỗ đâu mà giam cả đám như đám kiến. Làm gì nhau. Đói quá rồi! Cùi rồi sợ gì lở. Thấy loạn cào cào luôn.
Tình hình căng như dây đàn, dân thì quyết liệt sống mái. Thôi thì đất không chịu trời thì trời đành chịu đất. Thế là hợp tác xã trả lại đất lại cho dân làm, dân mong đất còn hơn hạn mong mưa. Vui vỡ chợ, vui hơn tết. Ai nấy cũng cà cuống ôm đất làm chối chết, vậy mà vẫn sống không nổi.
Có một ả nào đó ở nơi xa tới, lang bạt về đây. Đi lang thang nhiều ngày mà chưa có cơm có việc. Mệt nhoài, ả thất thểu ngồi dưới mái hiên nhà ngoại. Ngoại trông thấy con gái nhà ai xinh quá mà đói rách thấy thương. Ả kêu tía ả mất tích đâu trong năm loạn lạc rồi, còn mẹ và em mà quê nghèo đói quá nên về đây kiếm sống. Ngoại thầm khen ả thảo hiếu, nói năng lễ phép, giọng miền Tây trong trẻo ngọt ngào dễ thương. Ngoại có cả một bầy con, mà thời này ai không nghèo nhưng để ả lại lang thang ngoại bứt rứt quá. Nghĩ một hồi, ngoại nói ả cứ sống tạm nhà ngoại rồi hẵng hay.
Ả chịu khó, ngoan hiền. Ngày ngày ả vào nương vào rẫy làm lụng với anh chị em, tối tối về lại sà vào phụ việc nhà việc bếp, chăm heo nuôi gà. Nhà ai cũng mến cũng thương, ả thành người nhà tự lúc nào. Thời gian thấm thoát trôi nhanh.
Một đêm nọ, ả nói với mấy chị em, đêm ả hay mắc đi, xin nằm bên ngoài đặng khỏi phiền. Đêm ấy ả len lén dậy, ả mắc đi thiệt. Ngóc ngách nhà ngoại ả quen quá rồi, trong bóng đêm ả  âm thầm từ tốn mò mẫm, lục lọi. Sao đêm nay ai cũng ngủ say như chết, bao nhiêu quần áo mới, số tiền bạc ít ỏi, đồ đạc  rủ nhau mọc cánh bay theo ả. Khi chuông  nhà thờ đổ dồn báo lễ nhất, ngoại uể oải dậy. Cánh cửa nhà trước đã khép hờ hễnh tự lúc nào, ngoại giật bắn mình, biết có sự chẳng lành bèn lùa cả nhà dậy. Liếc qua quân số thì chẳng thấy ả đâu, kiểm qua thì ôi thôi, cả người lẫn của bay đâu mất tăm. Bần cùng thì sinh đạo tặc, như đám dân đen quê tôi một thời cũng thế, động cơ ả có khác, ả đáng trách thật nhưng nghĩ cho cùng và gom chung lại thì thấy đáng thương cả thôi, thời thế vậy mà.
Cả nhà rối lên, mà trời thì tối thui, đèn dầu con con chập cha chập choạng. Ông cậu cuống cuồng lôi xềnh xệch cái xe Honda 67 cùi không tả nổi, vơ đại chai xăng dựng ở vách bếp dốc thẳng vào bình. Xăng đâu chẳng thấy toàn thấy mùi nước mắm.,, Đã vội, thì lại… Điên máu cậu xả toàn chữ nho… ,rồi lại hì hục, hí hoáy xúc bình xăng.
Tảng sáng cậu cũng đến chợ Sặt. Cậu nóng tính như Trương Phi, từ xa khi trông thấy ả đang loay hoay thu gom chắc là sau khi bán hết mớ quần áo và đồ đạc, máu cậu sôi lên, nóng mặt, tai tía, phen này chắc ả tiêu đời.
Không biết cậu làm gì lúc đó, nhưng giờ mọi chuyện đã xong. Cậu cưỡi chiếc Honda 67 bon bon vừa chạy vừa ngó trời mây. Trời hanh hanh, nắng vàng nhè nhẹ. Cả nhà ai cũng đứng ngồi không yên ngóng cậu. Vừa thấy cậu thò đầu về ngoại vội hỏi, mày có bắt được nó không? Dạ, có. Ở đâu?  Chợ Sặt. Thế đồ đạc đâu? Cậu không nói, đứng tầm ngầm mãi thôi. Ôi, thôi tao biết rồi sáng sớm mà mày đã nướng sạch vào bài bạc hả thằng giặc giời. Giời ơi, sao tôi khổ quá vậy giời, lấy lại được của lại đem nướng vào bài. Ngoại ca bài ca con cá. Còn cậu thì đưa tay lên gãi đầu, lắp bắp, …nó… nó… năn nỉ quá, xin mãi, …nó nói ngọt quá, con chịu… khổng… nổi con… con… cho luôn rồi. Cái gì, giời ạ,  tổ cha mày, thằng dại gái. Rõ khổ!

Đồng Nội

January 16, 2015 Posted by | * Truyện | 3 Comments

Heo Nọc

Heo Nọc

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm con heo nọc để đời đón đưa.

Chẳng phải tự dưng tự lành mà chúng bạn lại gọi thằng Nguyên là Nguyên Nọc.
Năm đó sau Tết Nguyên Đán thì thằng Nguyên mặt xanh xao như tàu lá chuối, nó vừa thiếu ngủ vì thức đêm để đánh bài binh xập xám, vừa đói, vừa bị cắt bay hành quân liên miên tít mù.
Thấy nó hoa tàn nhuỵ héo quá, thằng bạn thân thiết mới đưa cho chùm chìa khoá xe Honda và năm trăm bạc, biểu ra phố kiếm cái gì mà ăn, chứ cứ ních gạo sấy hoài sống sao nổi.
Ánh mắt nó sáng rỡ, tót lên xe vù ra phố ngay lập tức.
Vài tiếng sau nó trở về, gương mặt bây giờ trông còn thất sắc, thảm não hơn lúc trước nhiều.
Hỏi nó bộ chưa ăn gì sao, thì nó thú thật là đã ra nạp mạng cho mấy em gà móng đỏ ở nhà bà Năm Khăn Bông hay chị Tư Nước Nóng gì đó rồi.
Chúng bạn kêu trời kêu đất, rồi đặt cho nó cái biệt danh, mà mới chỉ gọi lên thôi là tụi con gái nghe thấy đã mặt đỏ rần rần.
Sau ngày đứt phim tôi mất liên lạc với nó, chỉ nghe chúng bạn nói phong thanh là bây giờ nó đã có vợ con và trở thành một “ông chủ” ở Xóm Mới.
Ông Chủ Heo Nọc!
Trời ơi, thì ra cái tên do chúng bạn đặt cho ngày nào, đã vận vào cái phần số của nó!
Tôi về thăm lại Sài Gòn và đi tìm nó cũng không khó gì mấy, chỉ việc kêu xe ôm chạy lên Xóm Mới, tà tà hỏi thăm mấy nhà nuôi heo là tìm ra anh Nguyên chủ heo nọc ngay chóc.
Gặp tôi nó mừng, nó không ngờ mà tôi lại quí hoá quá, cất công đi tìm bạn xưa như vậy.
Bạn bè mấy mươi năm gặp lại thì có vô số chuyện để nói nhau nghe, nhất là lại kề cà bên chén rượu.
Cái thằng cà chớn này khi hỏi là vợ tôi bây giờ có phải là một trong những cô bồ ngày xưa không(?) Tôi chưa kịp gật đầu thì nó buông một câu gọn lỏn:
-Mấy con bồ của mày, tao coi bộ con nào cũng … úi chà chà … chậc chậc chậc …
Vợ nó đang lăng xăng bên bàn nhậu mà nó nói vậy tỉnh bơ, chẳng kiêng nể chút nào. Thằng Nguyên bây giờ méo mó nghề nghiệp nặng quá rồi.
Khi hỏi tới nghề chuyên môn thì như gãi đúng chỗ ngứa, nó “tả chân” kỹ đến nỗi vợ nó đã già rồi, nhan sắc đã đến thời “Mày thuôn lá ổi, vú thõng dưa gang …” rồi mà còn phải đỏ mặt, cười lên rinh rích rồi te tái đi ra phía sau bếp.
***
Mày biết không, khi tao đi tù về thì làm ăn cái gì cũng khó, cỡ như bọn mình thì chỉ chạy xích lô hoặc buôn bán vớ vẩn ở chợ trời mà thôi.
Tao dù sao bể cũng còn cành cạch, cái bộ vó Không Quân ngày trước vẫn còn có giá để tao lấy được vợ ngon. Nhà bả tương đối cũng khá vì có ruộng rau muống sau nhà, nuôi ít con heo và bả bán thịt ngoài chợ. Tuy thời điểm này cái gì cũng vào quốc doanh, nhưng người ta lén lút bán heo, bán thịt thiếu gì, chứ cứ đợi tem phiếu để mua thì có khi cả năm chưa được tí mỡ bôi mép.
Vì ở thành phố thịt rất hiếm nên mấy bà mấy cô đi theo xe đò về các tỉnh miền Tây, buôn bán lén lút, dấu diếm, bó thịt trong bụng trong đùi máu chảy tùm lum coi thấy mà ghê.
Còn cái này tức cười lắm, mấy nhà hàng trong Chợ Lớn ngày xưa sang trọng là thế, nhưng bây giờ người ta cũng nuôi “cải thiện” mấy con heo ngay chung quanh cầu thang máy. Cái thang máy đã hư rồi chẳng ai sử dụng hay sửa chữa gì được nên dùng mấy tấm ván “cơi nới” thêm ra, muôi vài con heo cho nó ăn cơm thừa canh cặn, khi bán thì công nhân viên cũng có tí tiền còm.
Ôi thôi cả cái nhà hàng luôn luôn có mùi cứt heo cho dù họ cũng ráng giữ vệ sinh, dội rửa thường xuyên.
Những chung cư dù mới hay cũ, mà đã cấp cho cán bộ thì khi vợ con họ vào tới SG cũng trở thành nhếch nhác vì đua nhau nuôi heo, nền bếp gạch bông bóng láng thế mà rồi cũng trở thành chuồng heo.
Họ không nuôi nhiều, một vài con thôi và từ ấy thiên hạ của cái đất Hòn Ngọc Viễn Đông cũng không còn lấy làm lạ, khi thấy từ ông thủ trưởng đến anh bảo vệ đi làm về, đều ghé mua đâu đó rồi chở tòn teng trên chiếc xe đạp một bó rau muống dài thòng lòng. Ngọn rau thì người ăn, gốc thì nấu với cám cho lợn! Cả người lẫn lợn sống đề huề chia xẻ từ thức ăn cho đến chốn ở.
Họ nuôi heo như nuôi chó kiểng, hễ đi về đến nhà là lo tắm rửa cho nó y như một đứa con cưng. Nó bỏ ăn hay ỉa chảy là hai vợ chồng xanh mặt cứ y như tai hoạ sắp đổ xập xuống cơ quan mình rồi.
Tao thấy “Trời Việt reo vui trong ánh hồng mênh mông. Người người lương hay giáo bên nhau cùng một lòng …” quá; lòng dân quí mến cái vụ nuôi heo quá, nên nhảy ra mần nghề buôn bán heo con. Heo giống mắc, nên tao bàn với ông bà già vợ không nuôi heo thịt nữa mà nuôi toàn nái, mà nái thì lại cần nọc, bởi thế nên tao bèn mua một con giống Yorkshire đực.
Sau đó có dăm tháng thì ôi thôi tiền vô như nước, đã phục vụ cho đàn nái nhà bá thở, mà tao còn phải “nhảy dù” phục vụ gần xa mệt bở hơi tai.
Dài dài từ Xóm Mới tao chạy xe Lam xuống Hạnh Thông Tây, Xóm Gà, Hốc Môn … đâu đâu trên bốn vùng chiến thuật cũng in dấu giày .. uở quên .. dấu dép của thầy trò tao, con heo giống Yorkshire của tao có giá lắm, mà công nhận nó khoẻ thực, một ngày mấy phùa rồi, mà cứ hễ mở cửa chuồng là cu cậu phóng lên xe Lam một cái rột, rất chi là hăng hái.
Có lần tao nghe bà kia hỏi bạn:
-Hồi này chị thả nọc ai vậy?
-Nọc ông Nguyên!
Kể xong nó ngoác miệng ra cười một cách khoái trá rồi tiếp:
-Mày đừng tưởng cứ dẫn chàng Nọc tới rồi thả vô chuồng, mặc kệ nó làm ăn ra sao thì làm! Vất vả cho ông chủ lắm chứ chả phải chuyện chơi đâu.
Trước khi lên xe Lam, tao thảy cho chàng hai hột gà sống -mà thời ấy chính tao cũng tiếc tiền không dám làm la-coóc mà ăn – Cái miệng nó bình thường nhễu nhão là thế, mà nó táp hai hột gà gọn bân, đố có rớt ra ngoài giọt nào.
Xe vừa ngừng là thằng đệ tử có cái mũi Trư Bát Giới ấy thính không thể tả, nó biết ngay cái nhà nào có heo nái đang động đực, đi xâm xâm vô nhà người ta rồi lao tuốt ra đằng sau, thân thể nặng nề thế mà phóc một cái là nó đã nhảy vào chuồng.
Khi con nái mới động đực, thì cái “hoa” nó đỏ au và sưng lên, nó kêu rống và ủi phá chuồng dữ lắm, ấy vậy mà khi con nọc vào, nó lại cắn, lại chạy xà quần … làm cho anh kia chả làm ăn gì được sất.
Người nuôi heo có kinh nghiệm, thì phải đợi vài ngày sau, khi cái hoa đã héo, biến thành màu đỏ bầm và có nước nhờn rỉ ra mới cho “nhảy”  và lúc đó con cái mới chịu đứng yên, mắt lim dim, tai cụp xuống, cái đuôi ve vẩy quẹo qua một bên để phơi bầy của nả.
Mày hỏi ông chủ heo nọc “cực” là cực làm sao hả?
Là bởi vì khi con nọc còn nhỏ, mà con nái xề lớn quá, anh chủ phải kê ghế, phải bồng thằng đệ tử mình lên thì nó mới ngang tầm “tác xạ” cho trúng mục tiêu, chứ không thôi nó khóc ngoài quan ải thì cũng xôi hỏng bỏng không.
Nói đến đây, thằng Nguyên Nọc cười khà khà:
-Hồi đó tao phóng rocket như thảy bi vô lỗ, nên bây giờ còn lạ chi chuyện nớ!
Nhưng khi con nọc đã quá to, mà con nái mới động lần đầu, nếu mà con đực chồm lên thì với sức nặng đó, có thể nó đè con nái gẫy lưng hoặc gẫy hai chân sau, mình phải lòn một cái bao bố dưới bụng con nái, rồi chị chủ nái một bên, mình một bên, rinh con nái cho chổng mông lên cao, canh sao cho vừa tầm thì mới hoàn thành tốt công tác có lợi cho dân cho nước ấy.
Lạ lắm, con nái mới bị phủ nọc lần đầu, khi cái khoan kia xoáy vào, nó cũng đổ máu y như người vậy. Cái khoan sút ra rồi, con nọc thường chạy chung quanh chuồng một vòng, rồi lại hớn tớn nhảy lên lần nữa, lần này cũng lâu khoảng 15 phút.
Hèn chi người Pháp cứ cho rằng cu-son là dâm hạng nặng trong các loài vật.
Sau hai lần mây mưa, thì từ cơ quan sinh dục cái sẽ đùn ra chất gì sền sệt, giống như hột é hay chè bột báng, nó lấp lại để tinh trùng con heo đực không phì ra ngoài, người ta gọi là “xả”.
Nếu nó bít kín thì lứa heo con mới nhiều.
Về sau này, dù kỹ thuật thụ tinh nhân tạo tiện lợi hơn nhiều, nhưng nếu tinh đông viên không bơm vô nhiều lần, thì số lượng bầy heo con cũng ít lắm.
Tôi tò mò:
-Ê mầy, con heo nó nhảy lên rồi có lộn ngược ra sau, dính lẹo như chó hay không?
-Ủa, mày dân quê mà chưa từng thấy heo nó làm ăn ra sao hả. Súng đạn của nó lạ lắm, nó xoăn xoắn như cái khoan gỗ của thợ mộc vậy. Tuy cặp lựu đạn của nó rất lớn so với thân thể, có khi nặng tới cả kí lô, nhưng súng của nó lại nhỏ như ngón tay cái mà thôi, thò ra ngắn chẳng tầy gang. Khi đã “dô gôn chú Tám” rồi, nó làm hùng hục thấy bắt ham, đến nỗi có khi chị chủ heo nái mặt đỏ nhừ đâu dám nhìn ngay trân, mà cũng cóc dám nhìn tao luôn. Chừng 10 phút rồi nó dừng lại, ôm lưng con nái đến 5 phút sau mới rời dàn phóng.
Như lúc nãy tao có nói, xong phát đầu là nó tụt xuống chạy một vòng nhỏ quanh chuồng như ta chạy tập thể dục, rồi lại hùng hục trèo lên ngay. Mẹ họ, tao mà có khả năng như thằng đệ tử này thì khối con mẹ chết với tao.
Tôi cười:
-Thôi đừng có giả nai nữa, bả ra đằng sau rồi, thành thật khai báo với tao đi. Từ hồi mày làm nghề này đến nay đã có bao nhiêu chị chủ heo nái kéo mày vô phòng? Mà nè, sao tao nghi mày quá, có khi mày nhìn thấy cái mông tròn vo dưới làn vải mỹ a, thì khỏi kéo đi đâu cho mất công, hai con heo xà quầng trong chuồng, còn hai anh chị chủ làm ăn ngay ngoài chuồng quá!
-Bậy mầy, ai làm ăn kiểu đó được.
-Sao lại không? Tao còn nhớ hồi mới vô Trung Tâm Nhập Ngũ, con bồ mày có cái dáng đi hây hẩy như bảo rằng “Nó đây nầy! Nó đây này” vô thăm ở vườn Tao Ngộ, dưới tàng cây bã đậu thằng nào đã kéo con bé vô nhúc nhích dưới cái poncho nắng nóng hừng hực?
Nguyên Nọc cười hộc lên:
-Mẹ! mầy nhớ dai tổ mẹ. Mà sao tao cũng lấy làm lạ, mấy người chuyên nuôi heo nái thì thường là bà goá, hoặc chồng phải đi công tác hay làm ăn nơi xa, bởi vậy mới tội nghiệp cho cái thân tao!
-Xạo! Khoái chí tử mà còn bày đặt nói tội nghiệp. Mà tao biết chắc rằng bà xã mày cũng đoán biết chuyện này, bộ bả không phản đối rồi bắt mày đổi nghề hay sao.
-Đổi nghề gì được, tiền vô ào ào ai không ham, mà cũng bởi cái vụ đó tao dữ dằn quá, nên bả cũng đành an ủi “Thôi! Để ổng đi cho đỡ mòn của nhà”.
Đến tuổi này rồi, tao mới nghiệm ra rằng tao là một thằng “Nọc Lộ” còn mày thuộc dạng “lù khù xách cái lu mà chạy”, hoặc nói theo kiểu miền trung là “lục lịt mà địt ra khói”. Mày chính là một thằng “Nọc Kín”!
Mà mày biết tại sao con chó nó đi tơ thì dính lẹo, mà con heo lại không dính hay không?  Chiều nay tao dẫn mày ra chợ Xóm Mới, mua ít thịt chó và một cái cẩu pín để mày coi thì sẽ hiểu liền. Cái cẩu pín dài chừng một gang, trơn tuồn tuột thì làm sao nó mắc dính cứng ở trỏng được, là vì ở gần cậng của nó có hai cục cứng chìa ra hai bên, khi con chó đã “dô gôn chú Tám” rồi, máu nó sẽ dồn về hai cục đó nên cương lên cứng ngắc. Hai cục đó lại chui vào phía trong của xương chậu con chó cái như hai cái ngạnh, thế nên cho dù con chó đực có quay lộn ra phía sau cũng không sút ra được. Đôi khi con chó cái nhỏ quá, còn bị treo lên cao, hai chân sau hổng khỏi mặt đất nữa. Tao nhớ hồi còn nhỏ có lần cùng với một thằng bạn, xỏ một cái gậy vô giữa mà khiêng lên nó cũng không sút.
-Me, mày chơi ác quá.
-Thì hồi nhỏ con nít có mấy đứa không rắn mắc? Nè, tao nhớ hồi tụi mình còn học tiểu học, mày thường hay đái dầm và ngủ thì nghiến răng trèo trẹo, có ai đó chỉ cho má mày mua dái chó về cho mày ăn để trị bịnh, bây giờ mày còn đái dầm không?
-Sư mầy.
-Tao không biết dái chó mầy đã từng ăn có ếp-phê gì không, chứ ngọc dương, ngầu pín không thể nào quí bằng cặp lựu đạn của heo nọc. Con nọc khi về hưu rồi, bán cho người ta làm thịt ai cũng tưởng là bán theo kiểu vứt đi. Lầm to!
Nguyên cái cục nợ đời của nó đã là một đống tiền, đâu có phải ai muốn ăn là mua được đâu. Tao nhớ hồi lâu rồi người ta lấy hai cái trư hoàn đó, xé vỏ bọc ngoài rồi bóp nát nó ra, đánh chung với trứng gà, tiêu hành tỏi bột ngọt các cái, chiên lên thì nó thơm lừng bay đi hàng mấy trăm thước, món này gọi là món “Ông ăn bà la làng” đó mậy. Sau này tụi xì thẩu Chợ Lớn nó gôm hết, nó pha chế tẩm ướp theo bài bản rồi nào là ngâm rượu, phá lấu, tiềm thuốc Bắc.. v v… đem bán cho mấy ông quan tham, mấy ông đại gia mới giàu phất lên nhờ thời cuộc, tiền tiêu thả giàn nhưng muốn ăn chơi coi bộ khó, vì súng đạn của mấy ổng đã mềm như cộng bún thiu.
Còn thịt của con heo nọc cũng lạ, tuy nó hơi hoi nhưng toàn là da và nạc, ăn cứ dòn sần sật như thịt heo rừng. Khi nào gặp con quá già, thì họ lại bán cho cơ sở làm  lạp xưởng.
Thịt nái xề hay thịt heo chết kia mà tụi nó ướp ngũ vị hương rồi dồn vô thành lạp xưởng thơm tho thì có thánh mới biết, nói chi đến thịt heo nọc, vừa tươi lại toàn là nạc, quí lắm chớ.
Mày nhớ nghe, về đây chớ có bao giờ ăn món lạp xưởng hay thịt heo quay. Chẳng biết ở Mỹ thì sao, chứ ở đây thịt bán ế ba bốn ngày đã thúi hoắc, heo bịnh, heo ghẻ, heo chết gì mà họ ướp gia vị cho thơm, quay lên rồi quết mật ong, tô màu … ăn vào có ngày trúng độc thì tiêu tán thoòng. Hôm trước báo chí còn đăng có người lấy màu vẹc-ni làm bàn ghế mà bôi lên thịt quay cho có màu vàng nữa đó. Thiệt kinh khủng y như  bánh phở ướp phoọc môn!
-Ớn quá vậy? Này, mày vừa nói là heo nọc nghỉ hưu, vậy thì sau khi hành nghề mấy năm nó mới hưu?
-Cũng tuỳ từng giống và tuỳ từng con, nhưng nếu nuôi lâu chừng ba năm thì heo nọc sẽ rất nặng cân, nó chồm lên con nái sẽ không chịu nổi, mà mình là sư phụ nó cũng vất vả theo. Sau này tao luôn luôn có một tổ tam tam chế: một con thuộc hạng thiếu niên, một con dạng trung niên và một ông hì hợm như tù trưởng, khi có ai gọi đi thì tao phải hỏi cho chắc là nái của họ nặng bao nhiêu để dẫn quân đi cho xứng tầm cỡ với đối tác. Chừng nào mình tẩy anh tù trưởng đi vô lò sát sinh, thì sẽ có thế hệ trẻ hơn đôn lên.
Bữa nhậu chiều hôm đó, câu chuyện nghề nghiệp của tôi ở bên Mỹ muốn khoe lắm mà vẫn không có cơ hội, vì thằng bạn quá nồng nhiệt về việc nuôi heo nọc của nó, nó nói lia lịa như bắn minigun.
Nguyên Nọc gắp một miếng dồi chó, lấy vài lá mơ cuốn chung dồi với ít lá thơm và một lát riềng, chấm đẫm vô chén mắm tôm chanh rồi nhồm nhoàm vừa nhai vừa nói:

Chẳng phải bò cũng chẳng phải trâu
Đầu đuôi không sủa sủa đầu đầu
Khi nằm với vợ thì lại đứng
Cả đời không ăn một miếng trầu ..
Mẹ, ai tả con chó hay quá, không hề có chữ chó nào trong câu thơ, mà đọc lên ai cũng biết là chó, chỉ có câu cuối hơi bị gượng ép. Mà này, con chó đực đúng là loài chó, chưa chi nó đã muốn chạy làng, mày coi nếu mà ông trời không bắt tội cho nó mắc lẹo, thì con chó đực khi xong việc là đã vọt mất tiêu ngay. Lúc nó lộn ra đằng sau, gương mặt nó rất chó, lưỡi thè ra, hai mắt trông gian ngoan đíu tả được; trong khi con heo nọc thì lại không thế, khi chị Nái mắt lim dim, thì anh Nọc cũng cùng bộ dạng, tui nó chia xẻ sự thung thướng với nhau rồi còn nằm im trên bệ phóng cả năm bảy phút mới tụt xuống.
Mày biết không, thằng con trai tao mới cưới vợ, tao cho nó ra riêng trên một miếng đất khá lớn trên Dĩ An. Hồi trước 75 thì đây là một quận của tỉnh Biên Hoà, nhưng bây giờ nó lại là Bình Chuẩn của tỉnh Bình Dương.
Mày ở đây chơi với tao, sáng mai tao chở lên đó. Chuyến này về đây mà không lên thăm trang trại nuôi heo rừng, heo mọi của thằng nhỏ, thì đối với một thằng tò mò như mày thật là một điều đáng tiếc. Thậm đáng tiếc!
Tuy chỉ là một anh chủ heo nọc, nhưng thằng Nguyên bây giờ mập ra, có tướng rất “Đại Gia” với mái tóc còn khá dầy, hơi bạc hai bên thái dương nên trông càng phong độ. Nó ngồi chễm chệ trên chiếc Honda bự bành ky, to lớn như tôi mà ngồi sau nó cũng cóc thấy gì đằng trước.
Hai thằng rời Xóm Mới chạy ra Xa Lộ Đại Hàn, nó phóng vun vút quẹo hai ba lần, xuyên qua mấy vườn cao su rồi chạy dọc khu rừng Cò Mi ngày xưa, bây giờ đã biến thành Khu Công Nghiệp Singapore coi tân tiến và rất xinh đẹp.
Tôi còn nhớ khu rừng Cò Mi này. Đây là nơi Liên Đoàn Biệt Cách 81 tập họp lần cuối cùng trước khi tan hàng.
Chúng tôi ghé vào một tiệm phở Bắc, nhưng thú thật so với phở ở Little Sài Gòn thì tô phở ở đây quá tệ, ăn không ra cái tướng báo gì. Đã thế chỗ ngồi, bàn ghế chén đũa gì coi cũng ghê gớm vì có quá nhiều xe chở đất cát chạy bụi mù, cuốn theo từng đợt gió mà lùa vô quán phủ đầy lên vạn vật.
Tuy chung quanh đây đã có rất nhiều cơ xưởng mọc lên, đất thổ cư bây giờ mắc như vàng, nhưng thằng Nguyên mua thửa đất này lâu rồi. Ngày xưa đất đầy gò nổng, chỗ thấp chỗ cao, vài cây điều cây xoài mọc lẫn với mấy bụi cò ke, sát hàng rào có vài bụi tầm vông còi cọc.
Xe chạy vào sân một ngôi nhà khá đẹp, bầy chó xồ ra sủa thì hai vợ chồng đứa cháu chạy ra. Cũng giới thiệu qua loa rồi Nguyên kéo tôi ra phía sau nhà.
Khu đất rộng chừng một ngàn thước vuông, có xây tường bao bọc cao hơn đầu người, phía trên lại có rào thêm kẽm gai.
Một bầy heo con có sọc trên lưng đuổi nhau chạy tán loạn.. Những con lớn hơn thì bị ngăn ra từng khu.
Con trai thằng Nguyên nuôi heo nối nghiệp bố nhưng theo cách khác, nó đi theo để giải thích cho tôi rõ:
-Chú à, những con heo lông vàng quạch có sọc đen kia là heo mọi, nó lớn tối đa cũng chừng ba bốn ký, bởi vậy cứ khoảng 3kg là cháu bán hết, có nuôi nữa chỉ thêm tốn hao mà không tăng trọng được bao nhiêu. Nó đẻ mắn như thỏ nên “rất có kinh tế”. Loại này ngoài thức ăn công nghiệp, nó còn ăn củ mì củ khoai hay rau lá rễ cây, nên người ta nói trong thịt nó có vị thuốc. Trước khi bán ra, đực cái gì cháu cũng thiến hết, chứ nếu để nguyên người ta ai cũng có thì giá heo mọi bị tuột dốc ngay. Hiện nay các nhà hàng, các quán đặc sản nhiều quá, mình không đủ cung ứng đâu, nhưng nếu cung cầu bão hoà thì mình không lời nhiều được.
Như chú cũng biết, thú rừng bây giờ bị cấm săn bắt, mà chở đi cũng khó, bị công an hoặc bảo vệ Lâm Trường ách lại là chí nguy. Ngay như cháu đây, có giấy chứng nhận nuôi thú rừng rồi đó, mà cũng bị làm khó hoài.
Vừa nói nó vừa lấy hai ngón tay xoa xoa vào nhau, ý nói phải chi tiền đều đều để được yên thân làm ăn.
Có mấy xe tới lấy hàng, nên nó xin lỗi rồi chạy vội vô nhà tiếp khách.
Hai chúng tôi đi dài dài ra coi lũ heo rừng.
Heo trông không giống heo nhà, mà cũng chẳng giống loại heo rừng mà chúng tôi thường săn ngày xưa ở vùng Tuý Loan gần Đà Nẵng.
Thằng Nguyên nói:
-Cậu cả nhà tao khá lắm. Khởi đầu nó mua một con heo rừng đực của người ta đi săn về, con heo trông dữ dằn với hai cái nanh dài xọc chìa ra, mà chỉ còn có 3 chân, chân kia đã bị cụt khi vướng bẫy.
Về nhà nhờ ông Bác sĩ thú y chữa cho lành hẳn và còn cưa hai cái nanh cho bớt nhọn, rồi nó cho nhảy với giống heo nhà và người ta gọi lứa này là F1.
Nó lại đi tuốt lên Phước Long mua được một con heo con bị sụp hầm về lai giòng F1 ra lứa F2. Bây giờ đã được một loại heo nạc và kháng bịnh như heo rừng, nhưng lại mau lớn như heo nhà.
Thế là mày biết, thằng con bây giờ giàu lên cấp kỳ, vì thịt rừng bán mắc gấp bốn gấp năm lần thứ thịt khác. Còn may hơn nữa là gần đây có cái dịch lở mồm long móng, trâu bò heo bị tai hại rất lớn, nhưng với đàn heo mọi, heo rừng này, nó kháng bịnh rất cao nên chưa thấy con nào bị cả.
-Ê Nguyên, mày có nhớ hồi mình bay vô mỏ than Nông Sơn, thấy người dân họ nuôi một loại heo cỏ nhỏ híu mà cái bụng nó ỏng xuống gần chạm mặt đất không? Tao không hiểu nó được đưa qua Mỹ hồi nào, mà họ nuôi nó như một con pet, cưng như cưng chó mèo, có người còn cho nó ngủ chung nữa mới gớm. Cách đây không lâu, báo có đăng rằng con Vietnamese pig này rất thông minh, bà chủ nó bị stroke mà nó chạy ra đường chặn người ta lại, dẫn vô nhà mà kêu xe cứu thương. Bà chủ thoát chết lại càng thương nó hơn nữa.
Nhưng qua tới xứ Mỹ, con heo nhỏ bé ngày xưa ăn đồ bổ béo quá, nó nặng đến 250lbs nên thường thì chỉ ít tháng hay nửa năm là chủ vội đăng báo cho free. Mấy người bạn tao thường đến “xin về nuôi”!
-Trời ơi, chắc mấy chả nuôi trong nồi.
-Thì thế! Hồi mới qua Mỹ tao cũng thường đi lên farm mua bò heo dê với tụi bạn, thấy có nhiều con heo nặng tới 1500lbs nghĩa là 750kg thấy phát sợ, nó lớn như con bò mộng vậy, hèn chi thịt ham hay ba rọi bên đó bán rẻ rề.
-Thôi cũng gần trưa rồi, mầy đi với tao qua nhà kế bên kêu họ làm con heo mọi để ăn cho biết vị. Thằng con tao vì bận quá mà cũng không muốn sát sinh nên đem dịch vụ này phú cho nhà hàng xóm. Người khách nào muốn con nào, họ bắt làm cho con đó. Mỗi con cả công làm, rau thơm rau sống, nước chấm với bánh mì mà chỉ có 200 nghìn. Bởi vậy cứ mỗi chiều, quan lớn quan bé cùng các đại gia ghé vô đầy quán, một con heo mọi thì bốn năm người ăn mới hết. Đối với họ vài trăm ngàn thì cho là rẻ như bèo, nhưng đám công nhân ghé đây làm một phùa như thế là mất đứt một tuần lương. Thảm thật!
Chúng tôi qua và mua một con của họ nhốt trong lồng. Anh chủ quán tắm rửa con heo mọi cho sạch sẽ, đập cây búa nhỏ lên trán con heo làm cho nó giãy tê tê không kêu lên được một tiếng, rồi lấy ống trúc chọc huyết vô một cái ca có trộn muối bọt.
Nhấp nháy chưa tới nửa tiếng, con heo đã làm ra hai hộp lòng và tiết canh, nguyên con heo quay lên vàng ươm xếp vào một cái khay mốp.
Lúc rinh về nhà, vừa đến khoảnh vườn ngang hông, thấy một anh heo nhỏ có chút xíu, đang nhảy chồm lên dê chị nái xề, thằng Nguyên chép miệng:
-Tụi mình đã đến tuổi về hưu rồi, súng còn mà đạn hết.
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!

Tan PD 253

December 6, 2014 Posted by | * Truyện | Leave a comment

Tự truyện của một phi công

Tự truyện của một phi công

Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Thân mến tặng các chiến sĩ Lôi Hổ của Chiến đoàn III Xung kích Lực lượng đặc biệt, để cùng nhau tưởng nhớ đến một buổi chiều Tây nguyên rực nắng quê mình…

Trước khi vào truyện

Bài này tôi viết vào ngày Quân lực năm 1989, cách đây 23 năm, lúc tôi mới tập tểnh cầm bút, đăng trên tập san Ngàn Sao của anh em Không quân Houston. Xin cám ơn Hắc Ưng 01, tức Trung tá Nguyễn Tiến Thành (còn được anh em âu yếm gọi là Thành… dâm – thời buổi này, ai nói mình dâm là một lời khen quí giá vô cùng) một phi đoàn trưởng F-5, một nhà thơ, một… con người đầy tình cảm đã cho tôi lại bài này sau nhiều năm thất lạc. Nếu ai chưa đọc, xin đọc. Nếu ai đã đọc rồi, đọc lại cũng chẳng sao. Điều quan trọng ở đây, tâm hồn tôi ngày đó như thế nào thì bây giờ cũng như thế thôi…
Ai biết đời đổi thay, sẽ không bao giờ thay đổi
Ai tưởng rằng đời không thay đổi, người đó thế nào cũng đổi thay…
***
Sau mười mấy năm di tản, tôi đã được đọc hơn chục câu chuyện viết về cuộc đời binh nghiệp của nhiều người. Chuyện nào cũng hay, cũng có nhiều kỷ niệm, nhiều hào hùng. Riêng tôi, nhớ lại quãng đời binh nghiệp dang dở của mình, dù có chủ quan đến đâu, tôi cũng thấy hơi… mắc cỡ. Kể từ ngày vòng tay giã từ bố mẹ đi đăng lính cho đến ngày leo lên tàu bay… “chạy thấy mẹ”, đời lính tôi chẳng có đoạn nào hào hùng đáng để viết ra đây cho độc giả thưởng thức. Lý do đơn giản vì tôi là phi công lái tàu bay L-19. Nếu là phi công khu trục hay trực thăng, có lẽ tôi cũng đã có nhiều kỷ niệm ghê gớm hơn đáng được kể lại cho thiên hạ nghe như lúc cắm tàu bay xuống giữa rừng phòng không để thả những trái bom xuống đầu địch, hoặc lái trực thăng xông pha lửa đạn đến để thả quân, bốc thương binh ở những vùng địa đầu giới tuyến vân vân. Tàu bay L-19 của tôi, thân hình ẻo lả chậm chạp, thường bị người ta gọi là tàu bay Bà Già, được dùng để thám thính và đánh trái khói chỉ điểm mục tiêu. Thám thính hay quan sát thì bay cao bay thấp gì cũng được, chẳng ai cần để ý. Mới ra trường vì “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên tôi còn hăng lắm, trận thám sát nào cũng bay thấp gần ngọn cây. Nhưng già hơn một chút nữa thì cái bu di của tôi nó cứ từ từ teo lại như bị mắc phải một chứng bịnh quái ác, và cao độ quan sát càng ngày tăng theo tỉ lệ nghịch của… con chim để tránh bớt phòng không. Gần đến ngày mất nước thì nó cao lắm, tôi không nhớ là mấy ngàn bộ.
Tôi không thể tự dối lòng mình và dối thiên hạ để bảo rằng ngày xưa tôi là một chiến sĩ oai hùng lắm, anh dũng lắm. Đời tôi đã hèn một lần ngày 30 tháng 4, tôi chẳng thể hèn thêm nữa. Nói láo, đối với tôi là một hành động hèn nhát. Tôi nhớ đã đọc được ở đâu đó rằng một trong những đức tính quan trọng nhất của người võ sĩ đạo Nhật Bản là không bao giờ nói dối. Vì vậy, tôi đành thành thực mà viết rằng suốt mấy năm mặc áo nhà binh ăn cơm chính phủ, những đoạn đáng nhớ nhất về cuộc đời binh nghiệp của tôi có thể viết ra đây cho độc giả thưởng thức là mấy lần… đi ở tù.
Đời lính ngắn ngủi của tôi, kính thưa quí vị, tôi bị ở tù trước sau là 4 lần. Tôi nói ngắn ngủi bởi vì tôi đi lính năm 69, đến năm 75 thì quân đội tan hàng, tính ra là gần được 6 năm. 6 năm lính mà ở tù 4 lần, và mỗi lần 1, 2 ngày là quá ít, nhưng đối với một thằng nhớ dai như tôi, mỗi lần như thế là một kỷ niệm. 4 lần ở tù, bây giờ ngồi nghĩ lại sau mười mấy năm, tôi chả thấy oan ức chút nào. Tôi công nhận lần ủ tờ nào cũng là do lỗi mình mà ra cả, rất đáng bị nhốt để duy trì kỷ luật quân đội và tốp bớt cái tính du côn hung hãn của thằng thiếu úy trẻ. Đôi khi, tôi cảm thấy kỷ luật của quân đội đới với tôi như vậy còn là nhẹ hều, nhẹ lắm.
Nhưng trong 4 lần ở tù này, chỉ có một lần cuối cùng là tôi leo lên xe quân cảnh mà lòng sung sướng hãnh diện đến độ có thể nói như ông Gandhi của Ấn Độ. “Đi vào tù mà vui tươi sung sướng như chú rể đi vào nơi động phòng ngày đám cưới”. Trước khi kể đến lần đi tù kỳ lạ này, tôi xin bắt đầu từ những lần ở tù đầu tiên…
Từ thuở nhỏ, tôi vốn là một thằng… chẳng giống ai. Lúc còn đi học ở tiểu học lên đến trung học, tôi luôn luôn gây rắc rối cho thầy giáo, cho cha mẹ. Ở trường, thay vì phải lo dùi mài kinh sử để đáp đền ơn dưỡng dục của song thân, tôi chỉ thích nghiên cứu tổ chức lập đảng để đi oánh nhau. Về nhà, đã chẳng giúp gì được công việc gia đình, tôi lại ăn hiếp các em, thỉnh thoảng còn “đỡ nhẹ” một ít tiền của mẹ để tiêu hoang. Quá khứ gian ác như vậy, vào lính, chả trách gì chỉ một thời gian ngắn là tôi phải ôm mền chiếu đi ngồi tù.
Tôi được nếm mùi tù lần đầu tiên liền chỉ sau khi khoác áo nhà binh mấy tháng ở Trường Bộ binh Thủ Đức. Một tối nọ trung đội tôi có nhiệm vụ đi gác tuyến. Phiên gác của tôi được anh em cắt là 3 giờ sáng. Đem mùng mền khăn gói theo trung đội ra tuyến, căng lều võng xong lúc ấy mới có 9 giờ đêm. Không có chuyện gì làm, thay vì đắp chăn nằm ngủ lấy sức như những người anh em ngoan ngoãn khác, tôi và vài thằng bạn trời đánh rủ nhau phú lỉnh ra khu gia binh ăn hột vịt lộn. Hột vịt lộn, muốn thưởng thức cho đúng điệu thì phải có 3 thứ đi kèm: thứ nhất muối tiêu, thứ nhì rau răm và chót hết là… la de. Cái món sau cùng này nó đã hại tôi bởi khi đứng dậy đi về, trời đã quá nửa đêm, bước chân tôi xiêu vẹo lạng quạng, đi nghiêng ngã như… một thằng say rượu. Nói đúng hơn, tôi đã “xỉn mẹ nó rồi”. Mò mẫm mãi chúng tôi mới về đến nơi cắm trại. Vào tới lều thì tôi chẳng còn biết trời trăng gì nữa, nằm lăn quay ra đánh một giấc.
2 giờ rưỡi sáng tôi bị một người khóa sinh đánh thức giậy để đổi gác. Gác gỏng gì nữa vì tôi lúc ấy chỉ còn là một khúc gỗ, có đem thẩy tôi vào lửa tôi cũng cóc cần, làm sao tôi thức dậy được? Anh khóa sinh này sau 10 phút không kêu tôi được, lại lui cui thế nào để lãnh phải một bốt đờ sô của tôi té lăn cù, bèn tức mình đi báo cho trung đội trưởng. Trung đội trưởng khôn hơn, biết tính tôi nên chẳng thèm gọi nữa, liền đi thông báo sĩ quan cán bộ trực. Ông trung úy Ba (tôi nhớ rõ tên), có lẽ bị mất giấc ngủ vì một chuyện không đâu, hầm hầm xách cây carbine M-2 chạy ra tuyến kiếm tôi. Sau hai tiếng kêu không có kết quả, người sĩ quan cán bộ không thèm phí thì giờ, ông ta nhờ… báng súng carbine kêu dùm. Bị giộng mấy cái đau điếng, tôi lồm cồm bò dậy. Trung úy Ba xài xể tôi một thôi rồi bắt tôi ôm súng ra tuyến gác. Để trừng phạt, ông bắt tôi phải gác thế cho cho tất cả những người khác tới sáng.
Tôi ôm cây M-16 ra phòng tuyến, quên cả hỏi mật khẩu và mấy thứ lẩm cẩm khác của người lính gác giặc. Đứng được khoảng 15 phút thì tôi không còn chịu nổi nữa, cơn buồn ngủ kéo tới, tôi rớt một cái rầm xuống đám cỏ. Ôi, đất ơi là đất, sao mà êm ái và dịu dàng thế này, tôi nhắm mắt nằm ngủ thẳng cẳng.
Không biết tôi ngủ được bao nhiêu lâu thì Trung úy Ba lại đi thanh tra. Lần này ông cho người dắt tôi thẳng về đồn Quân cảnh. Lúc tỉnh dậy, đầu óc choáng váng, tôi nhìn thấy vừng thái dương đã ló dạng qua khung cửa sổ có mấy song sắt của nhà tù. Sáng hôm đó là ngày chủ nhật, ngày thăm viếng. Không biết hên hay xui cho tôi, ngàn năm một thuở, ngày ấy tôi có người đến thăm. Nhà tôi ở rất xa, mãi trên cùng cao nguyên đất đỏ, xuân thu nhị kỳ mới có người đến kiếm, nay thằng em kế của tôi lên thăm ông anh quí thì hóa ra ông ấy đang ủ tờ. Thật là chán đời. Hai anh em gặp nhau trong 1 tiếng đồng hồ ngắn ngủi. Tôi dặn nó về đừng có nói là lên thăm gặp tôi đang ủ tờ, sợ cha mẹ phiền. Nó cười cười, dạy khôn tôi: “Anh là cùi mà cứ sợ hủi. Đi lính mà không ở tù lính thì làm sao đáng gọi là lính?” Tôi ầm ừ và cũng đành dùng câu nói của thằng em quí để tự an ủi lòng mình.
Chiều hôm ấy tôi được thả ra nhưng đã tiêu hết ngày chủ nhật quí giá của quân trường.
Lần ủ tờ thứ hai, khoảng 2 năm sau, lúc ấy tôi đã đeo lon thiếu úy tàu bay, vừa tốt nghiệp xong khóa hoa tiêu và đang được huấn luyện hành quân ở phi đoàn. Đó là những ngày nhàn nhã. Mục đích của thời gian huấn luyện này là tập cho phi công trẻ có dịp làm quen với chiếc phi cơ L-19 càng nhiều càng tốt nên chúng tôi nhận được lệnh của phi đoàn trưởng phải bay ít nhất 6 giờ mỗi ngày. Gì chớ bay bổng và nhậu nhẹt là hai chuyện tôi thích nhất trong cõi đời. Ngày nào tôi cũng vào phi đoàn, ký sổ phi lệnh rồi xách một chiếc L-19 cất cánh lang thang một mình trong không gian bát ngát. Khỏi cần nói chắc quí vị cũng có thể tưởng tượng được một thằng trời đánh như tôi sẽ làm gì trên trời một mình mới món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ? Tôi nhào, tôi lộn, tôi bay nghiêng bay ngã, tôi hành hạ chiếc L-19 đáng thương như đứa bé con tinh nghịch đủa giỡn với món đồ chơi cũ. Đùa chán chê, tôi xách tàu ra ngoài biển đi phá đám mấy ông thuyền chài. Thấy được một chiếc ghe nào lạc lỏng một mình là tôi cắt ga biểu diễn màn bay sát mặt nước, nhắm thẳng vào chiếc ghe lao tới như các Kamikaze Nhật trong xi nê. Khi nào người ngồi trên ghe chưa chịu… nhảy xuống biển là tôi chưa thỏa mãn, quay tàu lại làm vòng khác thấp hơn, thấp hơn nữa. Tôi không nhớ đã thoát chết bao nhiêu lần và đã làm không biết bao nhiêu người thuyền chài vô tội sợ hú hồn, phải nhảy tùm xuống biển.
Những hôm khác, tôi xách tàu đi xa hơn. Có khi còn lên Khánh Dương, bay dọc theo mấy dòng suối để tìm con gái Thượng tắm. Tôi ở Ban Mê Thuột nên biết đàn bà thiều số thường tắm truồng. Tôi chả bao giờ tìm thấy ai tắm nhưng cũng xém chết mấy lần vì tàu gần đụng núi.
Đấy, tôi gian ác như vậy nhưng vẫn chưa bị vào tù vì không ai biết chuyện tôi làm cả. Nhưng thiên bất dung gian, một ngày nọ, vào khoảng giữa trưa, tôi xách nón bay ra quay máy một chiếc L-19 để bay tập. Tôi nhớ rõ hôm ấy là ngày thứ sáu và lại vào giấc trưa nên phi trường vắng vẻ vô cùng. Phi đoàn cũng vắng tanh. Tuy ở phi đoàn chưa lâu lắm nhưng tôi biết chiều thứ sáu “vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm” được. Thử máy xong, tôi đem tàu ra so hàng ở taxiway rồi xin đài kiểm soát ra phi đạo cất cánh.
Đài kiểm soát vừa “Clear for take off” là chiếc L-19… già đã bị tôi tống ga cái rào. Con tàu như nhảy giựt người lên, lóc cóc chở ông thiếu úy cô hồn ra so hàng cuối phi đạo mau như bị ma đuổi. Tôi tống hết ga. Con tàu gầm lên, nhào tới trước. Cái giây phút thú vị nhất của bất cứ người phi công nào là lúc điều khiển con tàu chạy mau trên mặt đất trước khi cất cánh. Sự khác biệt giữa người và chim, giữa mặt đất tù túng giới hạn và không gian bao la bát ngát, giữa nguy hiểm và an toàn, giữa sống và chết là những giây đồng hồ ngắn ngủi này đây.
Tàu tăng tốc độ, phi cơ “ăn no gió” chuyền áp lực vào cần lái làm tay tôi bắt đầu cảm thấy nặng. Khỏi cần nhìn tốc kế tôi cũng biết là chỉ cần kéo nhẹ cần lái là tàu sẽ rời mặt đất từ từ bay bổng lên không. Đó là kiểu cất cánh bình thường. Nhưng đời tôi, ít khi nào tôi làm chuyện gì bình thường và giống thiên hạ. Thay vì kéo tàu lên, tôi lại hơi đè cần lái xuống cho tàu nhỏng đít chạy thằng trên phi đạo. Cất cánh như vậy coi nó mới giống Skyraider, nó mới hùng, mới đúng điệu “pilot de guerre” (Tôi thường bảo bạn bè rằng, nếu là mây, anh sẽ là loài mây trắng, nêu là người, anh sẽ chết cho quê hương, nếu là phi công, anh chỉ nên lái Skyraider…) Tôi cứ ráng giữ như vậy cho đến lúc không thể nào đè phi cơ trên mặt đất nữa, mới hơi nới cần lái cho tàu bay lên.
Lần đó, tàu vừa hổng mặt đất là tôi có một ý tưởng mới lạ (Suốt đời tôi khốn nạn vì những ý tưởng mới lạ của mình). Bay bổng ngon lành như tôi, tại sao không làm một cái chandel (đọc là xăng đeo) ở cuối phi đạo? Xin dành một vài hàng để tôi cắt nghĩa cái chandel cho các quí vị không phải là dân bay hiểu.
Làm chandel tức là làm một cái quẹo ngược 180 độ lên cao về phía sau. Tác diễn này giúp cho các phi công khi gặp phải chướng ngại vật phía trước có thể quẹo ngược ra sau một cách chính xác để khỏi mất hướng và vừa lấy thêm được cao độ. Muốn làm chandel, người ta mới đầu chúi mũi phi cơ để lấy thêm tốc độ rồi vừa nghiêng vừa quẹo và vừa kéo tàu lên một lượt. Tay và chân phải hòa hợp và ăn khớp với nhau như biểu diễn một điệu nhảy đầm. Cái chandel tuyệt hảo đặt con tàu đúng 180 độ ở cuối đường, không hơn không kém. Điểm quan trọng cần nói thêm, chandel là một tác diễn chỉ được làm ở một độ cao tương đối, làm ở sát mặt đất lúc vừa cất cánh là một điều tối kỵ vị rất nguy hiểm và vi phạm luật an phi nặng nề.
Lúc ấy tôi nào có biết gì là nguy hiểm, cứ cho đó là một ý kiến hay. Nhưng trước khi liều mạng như vậy, vốn gian ác nên tôi tính toán cẩn thận. Tôi phải chắc chắn là không có ai ở phi đoàn giờ này thì mới an toàn. Thế là tôi tà tà cho tàu bay lên, quẹo phải hơn ngắn một chút và để ý nhìn xuống phía phi đoàn. Good. Bãi đậu xe của phi đoàn vắng tanh. Phi đoàn tôi lúc ấy có 3 người tôi ngán nhất là phi đoàn trưởng, phi đoàn phó và trưởng phòng hành quân, ông nào cũng có một chiếc xe. Tôi mừng thầm, thế này chắc là các đàn anh đã về nhà ngủ rồi hay không chừng đang chở vợ con đi tắm biển cũng nên. Riêng Thiếu tá Bững trưởng phòng hành quân thì chắc đang đụng trận phé lớn ở một chỗ nào đó. Tôi ngán nhất là ông thần này, phi công gì mà mặt mày coi hung dữ chi lạ, còn ngầu hơn cả tôi, dòm cứ như là phi công Nhật. Cho chắc ăn hơn, tôi nhìn xuống bãi đậu xe của không doàn. Chiếc xe díp xanh của Đại tá Lạc không đoàn trưởng cũng thấy mất tiêu. Tôi mỉm cười khoái chí. Vậy là nhô con có thể múa rối được rồi.
Tôi làm vòng phi đạo xin tập đáp “chạm bánh cất cánh” (touch and go). Trưa thứ sáu, phi trường Nha Trang vắng khách nên các ông đài kiểm soát xem ra cũng có vẻ dễ dãi, chả bù với những lúc bận rộn, mấy ông hối nhặng cả lên. Vừa đáp xuống là tôi tống hết ga để chuẩn bị cất cánh lại. Phi cơ hổng khỏi mặt đất, tốc độ lên rất cao, có thể đến 140 knots (quá giới hạn của L-19) là tôi trổ tài. Tôi nghiêng cánh, vừa quẹo trái vừa đạp bàn đạp trái và kéo cần lái lên. Con tàu bốc cao như một cái hỏa tiễn, người tôi bị lực G đè xuống. G càng lớn thì tôi càng cảm thấy đê mê khoái tỉ, tưởng tượng như mình đang kéo một chiếc Skyraider bay lên. Thật không thể có cái chandel nào đẹp hơn cái chandel vừa rồi của tôi trên thế giới này. Chao ơi, sao mà nó sướng, sao mà nó đã, sao mà nó thú, không bút mực nào tả cho hết được. Bay như thế mới gọi là bay, mới là hào hùng, mới là xứng đáng là “Ôi phi công… danh tiếng muôn đời…”
Quẹo xong tôi theo mửng cũ soạn lại, tiếp tục vào đáp và làm thêm mấy cái chandel nữa. Tôi cảm thấy lúc ấy tôi không còn là một người phi công mới ra trường với số giờ bay chưa tới 300, mà là một anh hùng của Không quân Việt Nam. Giá có thằng Việt Cộng nào ngu dốt đi lạc vào phi trường thì tôi sẽ ủi cho nó xịt khói ra quần cho chúng nó biết tay người phi công trẻ này. Tôi cảm thấy phục tôi quá chừng.
Ở vòng đáp thứ 7, đang biểu diễn ngon lành thì tự nhiên có tiếng gọi của đài kiểm soát phi trường trong nón bay:
– Mustang Alpha đây Nha Trang đài.
– Nha Trang, Mustang Alpha nghe 5.
– Có điện thoại từ phi đoàn gọi bạn về đáp gấp và vào trình diện phi đoàn trưởng. Mustang Alpha nghe rõ không bạn?
Tôi như muốn té xỉu trong tàu bay. Thế này là tàn một đời phi công vô kỷ luật. Phi đoàn trưởng tôi, tôi còn lạ gì? Ông ta là một hung thần xuất thân khóa 17 Đà Lạt. Bình thường gặp ông ta không có tội lỗi gì mà đã thấy ngán, bây giờ giữa trưa vắng vẻ như thế này không lý ông ấy gội tôi vể trình diện để kể chuyện đời xưa? Liếc mắt thật nhanh về phía phi đoàn, tôi mới biết là cuộc đời gian ác của tôi sắp sửa bế mạc thật. Rõ ràng là chiếc xe díp đen của ông ấy đang nằm “chình ình” ngay trước cửa phi đoàn. Lúc ấy tôi mới hiểu rõ cái chữ “teo bu di” mà thiên hạ thường dùng để chỉ những phút giây con người sợ vãi đái ra quần nó như thế nào. Thê thảm lắm.
Đang còn chới với thì đài kiểm soát phang tiếp cho một chưởng:
– Mustan Alpha nhận rõ không bạn?
Tôi… mếu máo:
– Mustang Alpha nhận 5 bạn.
Con đường từ phi đạo về đến bãi đậu phi cơ sao mà ngắn quá, tôi cứ mong cho nó dài ra, đừng bao giờ hết để tôi khỏi gặp phi đoàn trưởng. Nhưng rồi cái giây phút kinh khủng ấy đã sắp phải đến. Tôi cặp nón bay lủi thủi bước vào phi đoàn ủ rũ như con chuột ướt, như một đứa con hoang trở về nhà cũ để nhận lãnh hình phạt sau đã phung phí hết tiền của. Tôi ngạc nhiên khi thấy phi đoàn lúc ấy đã có mặt đầy đủ văn võ bá quan. Ông thiếu tá phi đoàn trưởng đang chờ tôi trong văn phòng phía sau. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi nhìn thấy ai cũng nhìn tôi bằng một cặp mắt thương hại. Chắc họ đã đoán được cơn thịnh nộ sắp sửa dành cho tôi.
Sĩ quan trực ngày hôm đó là Thiếu úy Hầu văn Thùy Dương. Nó là một thằng tôi luôn luôn cho là cù lần cả quỉnh nhưng hôm nay tôi thấy thèm được cù lần như nó quá. Nó nhìn tôi rồi bấm máy interphone báo cáo:
– Trình Thiếu tá, Thiếu úy Nhị vừa vào (ông Tám lúc ấy còn mang lon thiếu tá)
– Anh gọi nó vào đây.
Tôi sửa sang quân phục, vuốt lại tóc tai. Thằng Dương bụm miệng kề tai tôi nói nhỏ:
– Số mày xui quá, thường thường giờ này ổng đâu có vô phi đoàn làm gì. Ổng để quên cái gì đó rồi chạy vào lấy là gặp ngay. Làm sao mà dấu được, tụi tao cũng chạy ra xem. Mày làm náo động cả phi trường Nha Trang. Ai bảo ngu ráng chịu. Đ.m mày chuẩn bị hai lỗ tai để nghe “mô ran” đi. Nhiều lắm là 2 tiếng và ít nhất là 1 tiếng. Xong phần “mô ran” là phần đi ủ tờ.
Nói xong nó lắc đầu nhìn tôi cười mỉm nửa như thương hại, nửa như thán phục. Tôi không nói gì. Tôi ngu thật, đúng như lời thằng Dương nói. Trong trạng huống này, tôi cảm thấy tôi ngu hơn cả con kiến.
Bước qua chỗ Lý Bững, ông trưởng phòng hành quân còn chơi nhẹ một câu:
– Bộ hết chỗ biểu diễn rồi hay sao mà về Nha Trang biểu diễn mày, làm như ở đây không có tàu bay chắc? Người thì nhỏ một chút mà sao bay bổng dữ dằn quá chừng…
Ông Tám là một con người cẩn thận. Mặc dù tội lỗi của tôi đã rành rành như vậy nhưng ông còn muốn xác nhận lại xem thử tôi vô tình hay cố ý mà “bay bổng kiểu gì kỳ quặc” vậy? Tôi thú nhận là tô đã làm chandel ở cuối đầu phi đạo.
Thế là cơn thịnh nộ của ông thiếu tá giáng xuống. Suốt gần 1 tiếng đồng hồ, ông phi đoàn trưởng trẻ tuổi khi la hét, khi nhỏ nhẹ, lúc khác đập tay thình thình xuống mặt bàn để cắt nghĩa cho tôi hiểu về bổn phận và trách nhiệm của một phi công trong thời chiến. Tôi không hiểu cái vụ chandel của tôi vừa rồi nó có liên hệ gì về quốc hội Hoa Kỳ và tiền viện trợ như thế nào và đôi khi tôi cũng nghe được 2 tiếng này. Thỉnh thoảng tôi lại còn nghe được danh từ “phản quốc” và “phá hoại” mới chết chứ. Vì đã chuẩn bị… hai lỗ tai trước khi vào đây cho nên tôi không lấy gì làm khó chịu lắm. Thằng nào đi lính một thời gian rồi cũng học được cái nước tịnh khẩu này. Cứ để cho đàn anh chửi rủa cho hả cơn tức, tới một lúc nào đó đàn anh sẽ mỏi miệng rồi sẽ tốp lại. Sau đó mình sẽ đứng lên chào cái cốp rồi bước ra…
Nhưng tôi bỗng tỉnh hẳn người và cảm thấy quặn đau trong lòng như ai đâm vào đó một con dao khi ông phi đoàn trưởng chê cái chandel của tôi:
– Anh nói anh làm chandel hả? Chandel cái con khỉ gì. Tôi chưa thấy cái chandel nào sai nguyên tắc, vụng về và xấu xí như cái chandel của anh. Đó là “xăng đan” của Ba Tàu Chợ Lớn chứ “xăng đeo” gì.
Than ôi, nếu biết tôi bay dở như vậy thì thì tôi đâu thèm biểu diễn làm gì để ra nông nỗi này. Tôi không buồn bao nhiêu vì sắp đi ủ tờ nhưng tôi đau đớn vì khả năng bay bổng của mình bị đánh giá tệ quá. Trong giây phút buồn phiền thất vọng, tôi chợt bi quan nghĩ rằng hay trời sinh mình ra chỉ để lái tới xe… GMC là hết cỡ, sao lại lái tàu bay để chuốc lấy họa?
Tôi không nhớ mình ngồi đó thêm bao lâu nữa nhưng khi leo lên xe Quân cảnh đi về cải hối thất thì trời chiều đã bớt nắng. Tối đó, thay vì ăn chơi nhậu nhẹt với bạn bè, tôi phải nằm trong tù nhìn mấy con muỗi làm… chandel trong mùng tôi. Xem chừng bọn muỗi đói này làm chandel hay hơn Thiếu úy Nhị trưa này nhiều vì đã mấy lần tôi đưa tay định vỗ thì chúng đã lượn một vòng tuyệt đẹp, bay ngược ra sau rồi biến mất. Vồ hụt muỗi mấy lần, tôi phát cáu chửi thề: “Tiên sư chúng mày, học ở đâu mà làm chandel đẹp quá thể, ông mà bắt được thì ông nghiền nát chúng mày ra cho tan đời muỗi…” Có thể nói, mỗi một con muỗi là một fighter pilot chính hiệu. Tuy tức tối nhưng tôi phục chúng nó.
Tôi đốt thuốc lá liên miên và tuy nằm trong một chỗ gọi là cải hối thất, tôi chẳng thấy muốn hối cải chút nào hết. Chẳng những không biết hối cải, tôi còn tự rút ưu khuyết điểm để lần sau, nếu tôi có hành động gian ác nữa thì không ai có thể bắt được. Tôi lại nghĩ về cái chandel… quê mùa và bực tức sự ngu dốt của mình. Đúng là có mắt như mù.
Ông Tám chỉ cho tôi nằm xả hơi đến sáng thứ hai thì gởi sĩ quan trực xách xe đến đón tôi về. “Ở tù ra” tôi đâm khôn, làm gì cũng ngó trước tính sau, nhất định không để sơ xẩy như lần đầu nữa.
Rồi tôi cũng được tha cho đi bay hành quân. Trước khi đi biệt phái lần đầu tiên, tôi được phi đoàn trưởng gọi vào trình diện. Một lần nữa, tôi chuẩn bị hai cái lỗ tai để nghe “mô ran” nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy ông Tám tỏ ra thân mật với tôi. Tôi còn được mời hút thuốc lá 3 con 5 mới là ly kỳ. Ông phi đoàn trưởng tâm sự với tôi một câu mà tôi không thể nào quên được:
– Tôi biết anh là một con người ba gai nhưng anh có tâm hồn và tài năng. Tôi sẽ huấn luyện để anh trở thành một cán bộ nòng cốt của phi đoàn. Phần anh, anh phải cố gắng, đừng cậy mình có tài mà bê bối. Anh phải luôn luôn ghi nhớ mình là một sĩ quan của QLVNCH, phải giữ gìn tư cách và tác phong.
Kể từ ngay đi lính đến giờ đó là gần 3 năm, tôi luôn luôn bị nghe chửi, đây là lần đầu tiên tôi được khen là “có tâm hồn và tài năng” nên rất lấy làm sung sướng. Sẵn trớn, tôi muốn hỏi xem cái chandel tôi làm ngày nào có quả thực là xấu xí và quê mùa không nhưng tôi tốp lại kịp thời. Không nên nham nhở với phi đoàn trưởng quá, để rồi từ từ hỏi sau cũng được…
Rồi tôi nhận phi vụ lệnh xách tàu đi biệt phái ở một chiến trường hung hãn nhất của Vùng II Chiến thuật lúc đó: chiến trường Tam biên Pleiku Kontum. Giặc vừa mở một loạt tấn công khắp các nơi để mở màn cho một trong những mùa hè tang tóc và kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam mà nhà văn Phan Nhật Nam gọi là “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972.
Tôi còn nhớ trong chuyến bay từ Nha Trang đến Pleiku lần đầu tiên ấy, leo lên 8 ngàn 500 bộ, trên tôi là mây, dưới chân tôi là đồi núi trùng trùng điệp điệp. Phong cảnh hùng vĩ và tươi đẹp của quê hương lúc trời rạng đông làm cho lòng tôi dâng lên một cảm xúc bồi hồi khó tả. Trong một thoáng, tôi cảm thấy mình không còn là một phi công vô kỷ luật nữa mà trở nên trầm lặng như một nhà hiền triết. Sau bao nhiêu tháng ngày học tập, đây là lúc tôi có thể thi thố tài năng để đáp ơn. Tôi lại cảm thấy tôi mang nợ với đất nước này nhiều quá. Lúc nhỏ, tôi mang nợ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Lớn lên tôi mang nợ công ơn giáo dục của thầy. Vào lính hơn 2 năm qua, tôi chỉ cắp sách và nón đi học để trở thành một phi công. Giữa lúc mà những người cùng tuổi tôi phải nằm gai nếm mật, vượt rừng lội suối, đem máu đào ra gìn giữ từng con đường từng tấc đất của quê hương thì tôi suốt ngày hết bay lên rồi lại bay xuống. Tôi tự nguyện với lòng mình là sẽ sử dụng hết khả năng mình để làm việc đền ơn cho tổ quốc.
Bạn có bao giờ đưa cho một đứa con nít một cây súng thiệt rồi bảo nó đi săn với bạn chưa? Khổ sở lắm, vì đứa con nít đó luôn luôn hăng tiết vịt, gặp cái gì cũng muốn bắn phá, rồi hết chòng ghẹo người này lại đến phá phách người khác. Thằng con nít còn đỡ hơn là tôi, một phi công trẻ với món đồ chơi mắc tiền là chiếc phi cơ.
Chỉ vài ngày sau thôi là điện thoại gọi tới tấp về phi đoàn để báo cáo và than phiền về những hành vi vô kỷ luật của tôi trên trời. Lúc ấy ở chiến trường, tôi nào có biết sợ là gì? Vùng phòng không đan kín trời ai cũng né thì tôi lại lù lù dẫn xác vô bằng một cao độ mà AK bắn chắc cũng rớt. Tôi nghĩ bọn xạ thủ Việt Cộng phải bắn dở lắm vì tôi chẳng hề bị gì cả. Chẳng phải là tôi gan dạ hay ngon lành gì, chẳng qua chỉ vì chưa biết nên chưa sợ đó thôi. Đâu đã hết, nhiều lúc tôi còn đi lạc vào vùng có tác xạ pháo binh đang TOT của hàng trăm khẩu vừa tây vừa ta. Tôi nào có biết. Đến khi nhìn thấy hàng trăm đóa hoa đất tự dưng nở tung tóe ngay dưới chân mình thì mới giật nẩy mình lên, hốt hoảng… chạy lấy người. Ai đi bay với tôi cũng đều than phiền.
Một buổi sáng, đích thân ông phi đoàn trưởng xách chiếc U-17 lên Pleiku đi điều tra tình hình. Khi chiếc tàu của ông vừa đáp thì một cơn mưa pháo của giặc cũng ào ào rớt xuống làm cho ông Tám càng giận thêm. Chỉ vì thằng thiếu úy mất dạy mà ông phải khổ sở như thế này. Gặp tôi, ông phùng mang trợn mắt xài xể và hăm dọa một lúc rồi đi một vòng thăm nơi ăn chốn ở của anh em, hỏi han dặn dò rồi ra về.
Tôi có bớt đi chút ít nhưng sau đó thì vẫn chứng nào tật ấy.
Một ngày nọ, tôi chở một ông đại úy Bộ binh của phòng 2 tiểu khu Pleiku đi thám sát. Vừa quay máy tàu xong, đang tà tà di chuyển phi cơ thì phi trường bị pháo kích. Tôi nghe đài kiểm soát la um trong tần số, thông báo phi trường đóng cửa, tất cả các phi vụ bị tạm thời đình chỉ, yêu cầu tất cả các phi cơ đang di chuyển trở về bến đậu. Dĩ nhiên tất cả các phi cơ khác đều quay lui về ụ, chỉ còn mình tôi tiếp tục lang thang trên đường taxiway, coi lệnh lạc của đài kiểm soát chẳng ra gì, coi pháo giặc cũng chẳng ra gì luôn. Chẳng phải vì tôi ngon lành gì nhưng nghe bị pháo mà nhìn quanh tôi chẳng thấy trái pháo nào rớt cả nên cứ giả vờ như mình không biết. Quả đúng là “chưa có thằng nào ngu hơn thằng này”. Tôi không muốn trở về bến đậu vì trời Pleiku vào khoảng 2 giờ trưa, mùa hè nóng bức vô cùng. Hơi nóng từ trên cao đổ xuống, từ mặt đất bốc lên, làm cả hai người ngồi trong phi cơ như ngồi trong lò bánh mì. Nghĩ đến cái cảnh phải trở về bến đậu rồi cà kê với mớ đồ nghề lỉnh kỉnh, tháo dù, cất dù, tôi đâm ra làm biếng. Tôi chỉ muốn cất cánh mau rồi leo lên chừng 5, 6 ngàn bộ cho nó được mát mẻ một chút. Ông sĩ quan Bộ binh phòng 2 đi bay với tôi thì dĩ nhiên không có ý kiến gì rồi.
Đến cuối đường bay, tôi bấm máy gọi xin ra phi đạo cất cánh. Mấy ông đài kiểm soát này giờ tưởng tôi bị hư vô tuyến, bây giờ mới bật ngửa. Mấy cha la hoảng lên như bị ai bóp dái:
– Mustang 12, đài kiểm soát gọi bạn nãy giờ không được. Phi trường đóng cửa, đài kiểm soát yêu cầu bạn trở về bến đậu gấp.
– Bạn cho tôi ra cất cánh… đại cái đi bạn. May ra tôi còn tìm thấy pháo chúng nó để phản pháo.
– Negative! Đài kiểm soát thông báo một lần nữa, yêu cầu Mustang 12 trở về bến đậu gấp.
Ngay lúc đó, hình như tôi nhìn thấy được một cụm khói đen bốc lên ở đâu đó trong phi trường, dấu hiệu pháo bắt đầu rớt. Nguy cấp rồi, khỏi thèm cãi vã với mấy cha đài kiểm soát này làm chi, tôi bèn tự động tống ga nhào ra phi đạo rồi đẩy cần ga lút cán. Chiếc L-19 chồm tới trước, chỉ vài trăm thước là hổng bánh ngay. Tôi kéo tàu lên, quẹo gắt ra khỏi phi trường, trong tai vẫn còn nghe mấy ông đài kiểm soát lải nhải. Tôi cười hì hì, nói thầm với mình: “Mẹ, biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”
Hành động điên rồ của tôi, nếu ở một hoàn cảnh khác thì có thể đã bị treo cánh bay vĩnh viễn, nhưng ờ một vùng địa đầu giới tuyến, giữa lúc cường độ chiến trường như vậy, tội của tôi được coi là nhẹ. Tuy nhẹ nhưng điện thoại cũng gọi tới tấp về biệt đội và phi đoàn. Hết ông an phi sư đoàn rồi đến ông an phi không đoàn thay phiên nhau mắng vốn về tôi. Tôi nghĩ đến cảnh ông Trung tá Tám lại một phen nữa phải vểnh tai ra nghe thiên hạ xài xể vì có thằng thiếu úy du côn mà không biết dạy. Chiếu đó về biệt đội, ông biệt đội trưởng, Đại úy Huy gọi tôi ra một góc, mặt mày hầm hầm:
– Đ.m sao mà tôi chán cái ông quan con này quá, lại có chuyện rồi. Ông Tám mới gọi ra, sỉ và tao tưng bừng…
– Em biết rồi, chuyện cất cánh hồi chiều chứ gì?
– Tụi an phi nó bẩo ông cất cánh không có lệnh đài kiểm soát, làm bộ hư vô tuyến, đủ thứ…
Tôi đáp tỉnh queo:
– Trời đất, vô tuyến của em hư thật, lúc nghe được lúc không. Đến chừng nghe đài kiểm soát bảo đóng cửa phi trường thì pháo nó rớt gần quá, em hoảng hồn cất cánh luôn. Teo quá, chỉ sợ chết…
Nói xong tôi còn làm bộ dậm chân dậm cẳng như là mình vô tội mà bị oan ức lắm. Đại úy Huy không biết phải nói gì, đành than thở:
– Cái phi đoàn này ngày ông chưa về thì nó yên thế mà bây giờ ngày nào cũng có chuyện. Thôi chuẩn bị mồm mép đi để lúc đổi biệt đội về trình diện ông Tám. Mấy ngày còn lại, ông bay với tôi. Cấm không được lạng quạng, nghe rõ không ông thần?
Tôi gật đầu sốt sắng. Lúc quay trở vào, tôi còn nghe Đại úy Huy lẩm bẩm đằng sau lưng: “Đù mẹ sao mà tôi chán ông quan con này quá, lúc nào cũng sinh chuyện được”
Đến ngày đổi biệt đội, tôi vừa đáp xuống phi trường Nha Trang thì đã thấy chiếc xe díp của phi đoàn trưởng đậu sẵn. Người tài xế mời tôi lên xe rồi chở thẳng về phi đoàn. Tôi vào trình diện ông Tám.
Tôi có thể lừa được nhiều người nhưng ít khi nào lừa được phi đoàn trưởng của tôi. Làm một cánh chim đầu đàn mà không biết mấy cái mưu chước vặt của đàn em thì làm sao trị được những thằng phi công vô kỷ luật cỡ như tôi. Chỉ vài câu hỏi hóc búa thôi là cái tội nói láo của tôi bị lòi ra ngay. Thế là một lần nữa hết đời tên gian ác.
Chiều hôm đó, sau 15 ngày biệt phái, thay vì được về nhà ăn nhậu như những người khác thì tôi lại lóc cóc leo lên xe Quân cảnh trực chỉ cải hối thất. Sao mà tôi ghét những chiếc xe díp nhà binh như thế này. Người ta thường ngồi lên đó lái đi phom phom coi rất oai phong lẫm liệt còn tôi thì chỉ ngồi lên để đi trình diện xếp lớn hay đi tù. Ngồi trên xe, tức quá mà chằng biết làm gì, tôi đành lôi mấy thằng đài kiểm soát Pleiku ra mà nguyền rủa. Tiên sư chúng nó, đúng là chuyện bé mà xé ra to để tôi phải đi tù…
Có lẽ chỉ muốn dằn mặt ông thiếu úy du côn một chút thôi nên sáng sớm ngày hôm sau tôi được thả ra. Lần này tôi được ông Tám cho một đại úy lái xe díp (lại xe díp) đi đón tôi và tôi được tặng một tờ giấy phép 5 ngày với nhiều lời nhắn gởi…
Sau đó, bẵng đi một thời gian đến mấy năm, tôi không còn nhớ cái hình dáng của cải hối thất nó tròn hay méo như thế nào nữa. Chẳng phải vì tôi trở nên tốt lành gì nhưng càng lớn thì tôi càng khôn ra, làm gì cũng cẩn thận, ngó trước dòm sau chứ không ào ào như những ngày xưa…
Tôi trưởng thành dần theo cuộc chiến cho đến lần xảy ra vụ ở tù lần thứ tư….
Khoảng đầu năm 1974, giặc bỗng tấn công và tràn ngập đồn Bu Prăng. Cái đồn Địa phương quân này có một vị thế chiến lược quan trọng vì nó nằm giữa con lộ duy nhất nối liền Quảng Đức và Ban Mê Thuột.
Quận lỵ Quảng Đức, vốn đã từ lâu “sống âm thầm cô độc” giữa những khu rừng già trùng trùng điệp điệp nên chịu số phận hẩm hiu: chỉ là miền đất lạnh lẽo dành cho những kẻ bị lưu đày. Bộ binh ở đây toàn là những kẻ ngang tàng và hào sảng như Thiếu tá Trương Minh Dũng, tham mưu trưởng tiểu khu Quảng Đức. Thiếu tá Dũng, “người anh em” của Phi đoàn 114, xuất thân khóa 1 hay khóa 2 Thủ Đức, vừa ra trường là gia nhập binh chủng Nhảy Dù, đánh hàng trăm trận lớn nhỏ trước khi được Tổng thống Diệm đưa qua Địa phương quân để vừa làm cán bộ vừa nâng cao khả năng chiến đấu của những đơn vị này. Gần mấy chục năm máu lửa và sương gió trên khắp nẻo quê hương cũng chỉ được nhà nước nhớ ơn bằng cặp lon thiếu tá khiêm nhường trên cổ áo. Phi đoàn tôi từ nhỏ tới lớn ai mà không biết hoặc không quen Thiếu tá Dũng với cái điếu cày thuốc lào luôn luôn có trên tay. Cái điếu cày bằng nhôm màu bạc này là vật bất ly thân của Thiếu tá Dũng dù trên chiến trận, trong tàu bay L-19, nơi phòng họp hành quân với tư lệnh quân đoàn, hoặc ở các phòng trà nhảy đầm danh tiếng của thủ đô Sài Gòn những lần về phép. Cái con người ngang tàng lạ lùng này của quân lực còn là một nhà thơ nổi tiếng với những bài như “Nỗi buồn của hạ”, “Xuân cao nguyên”, “Bỏ phố lên rừng…” Riêng bài Bỏ phố lên rừng lúc ấy đã được Châu Kỳ phổ nhạc, nghe rất hay.
Về phía Không quân thì đi biệt phái Quảng Đức cũng coi như khăn gói đi tu 15 ngày. Cả thành phố chỉ có được một khu chợ chính nằm trên con đường dài không quá 100 thước, khách bộ hành, vừa đi vừa nghỉ, cũng chỉ cần 5 phút là về chỗ cũ.
Nhỏ vậy, nghèo vậy, hiền lành như vậy, nhưng Quảng Đức với tôi có nhiều kỷ niệm vô cùng. Ai cũng sợ đi Quảng Đức, chỉ có mình tôi, Đại úy Hưởng, Đại úy Nhơn là cóc cần vì chúng tôi đã có “bùa”. Chiều chiều, chúng tôi hay hay rủ rê anh em xách tàu bay qua Lâm Đồng nhậu nhẹt với Đại úy Dũng hay lên Đà Lạt hay qua Ban Mê Thuột chơi. Quảng Đức là một quận lỵ hiền lành, dường như giặc cũng chê cái thành phố này cho đến hôm nay.
Lấy xong Bu Prăng, con cháu giặc Hồ còn chơi bạo, tính kéo luôn quân về vây hãm Quảng Đức. Thế là chúng tôi có nhiều việc làm.
Chiến dịch tái chiếm Bu Prăng, vào lúc căng thẳng nhất, đã có đến 6 phi hành đoàn L-19 túc trực ngày đêm để làm việc với 1 liên đoàn Biệt động quân, 1 trung đoàn của Sư đoàn 23/BB và Chiến đoàn III Xung kích LLĐB. Rất từ từ nhưng quân ta cũng chặt đứt được khúc đuôi của giặc, giải tỏa áp lực cho Quảng Đức đồng thời tiến gần trở lại Bu Prăng.
Tôi bay lên biệt phái cho Quảng Đức một thời gian thì một buổi trưa, vừa về đáp sau một phi vụ, tôi đang nằm ngủ trong căn nhà của biệt đội. Sáng đó, tôi bay sớm và bay lâu nên về nhà thì mệt nhoài. Tôi cũng không còn nhớ lúc ấy những phi hành đoàn khác đã bỏ đi đâu mà chỉ còn có mình tôi ở lại biệt đội. Tôi nghĩ họ chở nhau đi ăn cơm.
Đang nằm thiu thiu thì bỗng có một chiếc xe díp nhà binh phóng như bay rồi thắng kít ngay trước cửa biệt đội. Bụi đỏ tung mù trời phủ mờ chiếc xe díp và hình ảnh mấy ông mặc áo rằn ri không rõ lon lá đang phóng xuống chạy như bay vào.
Biệt đội Quảng Đức chúng tôi trú ngụ trong một căn nhà xây xi măng. Từ đầu tới đuổi căn nhà, chúng tôi kê đúng 12 cái giường bố sắp thẳng băng sát cạnh nhau như trong một cái bệnh viện. Giữa nhà là một chiếc bàn con và cái điện thoại để liên lạc với trung tâm hành quân tiểu khu và sĩ quan liên lạc Không quân. Chiếc bàn con này coi vậy mà làm được nhiều việc. Nó vừa là nơi họp hành quân, nơi ăn uống, nơi đánh bài và dĩ nhiên, cũng là bàn rượu khi rỗi rảnh. Giường tôi nằm khá xa phía trong.
“Mẹ, lại có chuyện rồi, thế là mất tiêu buổi ngủ trưa”, tôi vừa cằn nhằn vừa trở mình nhìn ra, chỉ hi vọng mấy ông mặc đồ rằn ri đổi hướng khác, không bước vào đây.
Nhưng họ không đổi hướng, cứ xăm xăm đi vào. Chẳng biết mấy ông muốn gì đây mà bộ tịch coi ghê quá. Tôi liền dựng người trở dậy, thọc vội cái áo bay vào người, kéo xong phẹc ma tuya thì mấy ông rằn ri cũng vừa tới trước mặt. Thì ra toàn là những sĩ quan của Sở Liên lạc Nha Kỹ thuật, phù hiệu đỏ chói của Tổng tham mưu bên tay trái và huy hiệu chiếc dù có con cọp hay con beo gì đó trước ngực. Theo trí nhớ của tôi thì có 1 ông trung úy và 2 ông đại úy, mặt mày ai nấy coi có vẻ nghiêm trọng vô cùng.
Tôi chưa kịp đưa tay chào mấy ông sĩ quan lớn lon hơn tôi theo đúng lễ nghi quân cách, chưa kịp nói gì thì một ông đại úy hỏi:
– … Em là phi hành đoàn duy nhất ở đây?
Theo thói quen học được từ những ngày còn ở Trường Bộ binh Thủ Đức, tôi cung tay chào mấy quan Lôi Hổ:
– Dạ đúng Đại úy, không biết mấy ông kia đi đâu hết rồi. Đại úy cần gặp ai?
Nghe như thế thì khuôn mặt mấy người sĩ quan Nha Kỹ thuật thoáng lên vẻ thất vọng. Tôi kéo mấy cái ghế sắt:
– Mời đại úy và quí vị ngồi chơi, tôi xin phép đi xỏ đôi giầy.
Họ cám ơn tôi rồi cùng nhau xầm xì to nhỏ gì đó. Tôi bình thản ngồi xuống giường mang giày vớ. Mặc áo nhà binh lâu, tôi đã quá quen với những bất ngờ, những bấc trắc của cuộc chiến nên đã học được cái tính phớt tỉnh Ăng lê. Chuyện gì xảy ra, tin tức gì cũng chẳng làm cho tôi bận tâm. Thêm vào đó, hồi đó tôi đang trở chứng, muốn tìm hiểu và đang đọc các loại sách nói về kinh Dịch, về luật âm dương của tạo hóa nên trở nên là đà, mặt mày lúc nào cũng đăm chiêu tư lự và chán đời như ông Trang tử ngày xưa.
Mang giày xong, tôi ra kéo ghế ngồi giữa mấy ông sĩ quan Nha Kỹ thuật, châm lửa một điếu thuốc:
– Nếu Đại úy muốn kiếm ông biệt đội trưởng, Đại úy có thể dùng điện thoại đây gọi về cho trung tâm hành quân tiểu khu. Mấy ông “Alo” (sĩ quan liên lạc Không quân) chắc biết ổng ở đâu.
Một ông đại úy lên tiếng sau một vài giây ngần ngừ:
– Chúng tôi có một việc cần anh giúp đỡ, nếu anh giúp được chúng tôi cám ơn anh vô cùng.
Lời nói khẩn thiết và chậm rãi của vị sĩ quan Nha Kỹ thuật làm cho tôi ngạc nhiên. Một thằng thiếu úy Không quân hạng bét như tôi thì giúp gì được mấy ông rằn ri thứ dữ này? Nhưng cứ nhìn điệu bộ và cách ăn nói thì mấy ông này giữa trưa lái xe tới đây không phải để đùa dai với tôi. Trong một giây phút, tôi cảm thấy khoái chí vì mình tự nhiên được trở nên một nhân vật quan trọng.
Tôi nhíu mày:
– Đại úy cần gì, xin Đại úy cứ cho biết…
Người sĩ quan Nha Kỹ thuật nhìn thật sâu vào mắt tôi, nói chậm rãi và bằng tất cả những sự thống thiết của một con người:
– Một toán Lôi Hổ của tôi thả xuống lần trước đã bị Việt Cộng phát hiện, bị bao vây và tấn công mấy ngày. Tụi nó đã chạy thoát được nhưng đang bị phân tán mỗi người một nơi và lạc trong rừng. Tôi muốn nhờ… Thiếu úy, muốn nhờ… em giúp tôi bay lên để gom chúng nó về một LZ an toàn.
Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tưởng gì chứ đi bay kiếm Lôi Hổ bị lạc và chọn bãi đáp thì quá thường đối với tôi. Tôi chịu nhất là cái tài chiếu kiếng của mấy ông này. Nhiều khi tôi bay rất cao, giữa rừng già thăm thẳm mênh mông mà mấy ông chỉ cần chiếu một phát là tôi nhìn thấy ngay. Chà bù với mấy ông Bộ binh, nhiều khi chiếu cả ngày cũng chẳng thấy đâu. Nhưng một phi vụ đơn giản như thế thì tại sao lại khổ sở vào đây để kiếm tôi?
Tôi nói ngay:
– Có gì đâu Đại úy, Đại úy cứ việc gọi về trung tâm hành quân, request một phi vụ là tôi cất cánh liền.
Ông đại úy lắc đầu:
– Nếu xin được thì tôi đâu có đến đây kiếm anh.
Thì ra vậy. Số là Không quân chúng tôi khi được biệt phái đi bay yểm trợ cho các đơn vị bạn, mỗi ngày trung tâm liên lạc hành quân đều thông báo cho bộ tư lệnh chiến trường biết có bao nhiêu tàu khả dụng, bao nhiêu phi vụ có thể cất cánh được. Số phi vụ này được tư lệnh chiến trường, tùy theo mức độ cần thiết và nhu cầu, chia ra cho các đơn vị tham chiến. Khi một đơn vị cần phi cơ yểm trợ, họ chỉ việc gọi cho trung tâm liên lạc hành quân. Nơi này, tùy theo số lượng phi vụ đã được cấp phát trước, sẽ cho chúng tôi cất cánh để làm việc với họ. Tôi không tò mò hỏi thêm nhưng biết chắc có lẽ đơn vị Lôi Hổ này đã xài hết những phi vụ của mình, hoặc vì tình trạng thiếu thốn máy bay, không xin được một phi vụ nào cả, đành phải đau xót nhìn những đứa con của mình bị rượt đuổi giữa rừng già.
Đối với chúng tôi, ngoài những phi vụ huấn luyện hay bay thử phi cơ, cất cánh không có phi vụ lệnh đàng hoàng là sẽ bị ở tù hoặc đưa ra tòa án quân sự. Thân bại danh liệt là cái chắc. Thật ra, trong suốt cuộc đời bay bổng, chúng tôi cũng đã nhiều lần cất cánh lậu để đi ăn nhậu hay chở bạn bè đi chơi nhưng chúng tôi đều luôn luôn có phép ngầm của trung tâm liên lạc hành quân. Nhiều khi, những người hành khách mà chúng tôi chở đi chẳng ai khác hơn là ông sĩ quan trưởng phòng liên lạc hành quân “dù” đi chơi hoặc bạn bè của ông ta. Nhưng đó là chuyện thời bình, khi không có việc gì để làm. Điềm quan trọng là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chúng tôi không bao giờ dám cất cánh lậu mà trung tâm liên lạc hành quân không biết. Hôm nay, giữa lúc khói lửa ngút trời như thế này, không ai dám nghĩ đến việc xách tàu đi đâu.
Tôi đã tính lắc đầu. Chuyện của thiên hạ thì mắc mớ gì tới mình mà bày đặt. Hơn nữa, cái tiếng tăm của tôi trong phi đoàn lúc ấy đã quá nổi. Không phải nổi nhờ những cái hay mà toàn là những chuyện bê bối và “gian ác”
Tết vừa rồi, ngày mùng 3, tôi bay mấy trăm dặm đường về Ban Mê Thuột để chúc Tết và nói chuyện đầu năm với thân phụ. Sau một ly trà nóng, ông đã bảo tôi bằng một giọng buồn buồn và mệt mỏi rằng: “Con đã lớn tuổi, phải sửa lại tính tình để lo cho tương lai, không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm”. Cái chết của thằng em ruột tôi, Trung sĩ Lê Xuân Bích tại trận Tân Cảnh năm 1972 đã đem tang tóc vào nhà tôi và làm cho ông buồn bã vô cùng. Tôi nhớ, khi em tôi vừa ra trường Đồng Đế, về Sư đoàn 23 Bộ binh, nhiều người đã bảo ông sao không chạy chọt cho nó được một chỗ ấm thân. Thân phụ nghiêm mặt trả lời: “Nếu ai cũng lo chạy chọt như mình thì chính phủ lấy người đâu mà đánh giặc. Hơn nữa, nhà nghèo quá, tiền ăn còn không có thì lấy tiền đâu ra mà chạy chọt”. Thật là một lời nói đau buồn nhưng không phải không có lý. Hình như cái chết của thằng con trai đã ám ảnh ông. Thân phụ không còn như xưa nữa. Nghĩ đến thân phụ tuổi đã cao, lại khổ cực cả một đời vì con cái nên tôi có thành tâm hối cải, tính tu thân để trở thành một “cán bộ nòng cốt của phi đoàn” như lời dạy dỗ của phi đoàn trưởng. Nhưng số tôi làm như không có… căn tu cho nên lâu lâu cứ bị dây dưa vào những chuyện đâu đâu.
Tôi suy nghĩ sâu hơn nữa. Nhìn những vị sĩ quan của Nha Kỹ thuật ngồi trước mặt, lòng tôi bỗng tự dưng dâng lên một niềm kính phục kỳ lạ. Giữa lúc có nhiều ông sĩ quan cao cấp đem bán cả gạo, cả súng đạn cho giặc thì những con người Việt Nam này, những sĩ quan trẻ tuổi này, mặt mày lo âu, mắt ai nấy ngầu đỏ vì thiếu ngủ đang ngồi chờ sự quyết định của tôi. Nếu tôi đồng ý, các vị sẽ cứu được những người lính của mình, những người tuy không phải bà con ruột thịt nhưng tình chiến hữu còn khắn khít hơn máu mủ ruột thịt. Nếu tôi từ chối, chẳng ai làm gì tôi cả và tôi sẽ không bị lôi thôi rắc rối với phi đoàn hay pháp luật. Nhưng nếu làm vậy, tôi biết những người lính Lôi Hổ anh dũng kia có thể bị giặc bắt hay tàn sát và lương tâm tôi, cái lương tâm của một sĩ quan QLVNCH, dù mang một cấp bậc rất nhỏ là thiếu úy sẽ dằn vặt xâu xé tôi suốt đời.
Tôi lại nghĩ đến những lần cất cánh trái phép để đi chơi bời, đi ăn nhậu. Xăng chính phủ, tàu bay chính phủ, tôi sử dụng trái phép như thế chẳng khác gì tôi phạm tội tham nhũng, ăn cắp của công. Tôi chửi bới người khác tham nhũng, còn tôi, ai sẽ chửi bới tôi? Lớn ăn theo lớn, nhỏ phá theo nhỏ, còn gì là cái gia tài của quốc gia?
Ông đại úy Nha Kỹ thuật mời tôi điếu thuốc. Ông cười… cầu tài. Tôi thấy nụ cười của người đàn anh trong quân đội sao vừa buồn mà lại vừa oai dũng, vừa chịu đựng, lại vừa quyết liệt. Ông nói, giọng như người anh khuyên bảo đứa em trai:
– Thiếu úy cứ tính đi. Anh em chúng tôi không muốn làm cho Thiếu úy kẹt. Nhưng nếu giúp được chúng tôi, chúng tôi sẽ cám ơn vô cùng…
Vì trách nhiệm, vì tình chiến hữu sắc son, vì muốn cứu mấy người lính của ông ta, một vị đại úy oai hùng của Nha Kỹ thuật đã mời thuốc lá và cười cầu tài với một chú thiếu úy oắt con như tôi. Tôi bỗng thấy trái tim mình như rướm máu, lòng dạ xót xa bồi hồi. Tự nhiên, tôi thấy thương quân đội tôi, dân tộc tôi vô cùng. Ngày nào quân đội tôi còn những sĩ quan như thế này, ngày đó chúng tôi và những người đàn em của ông ta còn có lý do và để hãnh diện chiến đấu. Quân đội tôi, cái quân đội nghèo nàn bắt đầu không phải từ con số 0 mà từ con số trừ to lớn bởi vì đã bị bóp méo coi thường ngay từ những giây phút đầu tiên. Bọn Cộng sản đã lòe được thiên hạ để mang cái vỏ “quân đội nhân dân” bên ngoài. Chúng tôi, những chiến sĩ của nhân dân thật sự thì lại mang tiếng là lính hậu thân của quân đội thuộc địa. Hàng bao nhiêu năm qua, bạn cũng như thù, đã đem quân đội tôi ra mà nhục mạ, bêu xấu, hành hạ đủ điều.
Tôi không phủ nhận quân đội tôi đã có những thằng tướng hèn, tướng phản bội, tướng nối giáo cho giặc. Nhưng, trên cõi đời này, có cái gì là tuyệt đối? Những bê bối, những xấu xa, quân đội nào chả có đâu phải chỉ riêng mình quân đội tôi.
Chính những người sĩ quan của một binh chủng hung hãn nhất quân lực ngồi trước mặt tôi ngày hôm nay làm cho tôi nghẹn ngào mà hãnh diện, vui mà buồn. Tôi nhớ đến cái chết của thằng em tôi tại chiến trường Tân Cảnh ngập máu năm nào. Mỗi lần nghĩ về em, lòng tôi như bị ai đâm lút cán một lưỡi dao. Tôi lại nhớ đến lời nói của thân phụ: “Không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm”. Trách nhiệm của tôi, một sĩ quan xuất thân Trường Bộ binh Thủ Đức, một phi công của QLVNCH trong hoàn cảnh này là gì? Là bằng mọi cách, phải cứu cho bằng được những chiến sĩ Lôi Hổ can trường kia. Tôi cũng đã suy nghĩ đến những hậu quả có thể xảy ra cho tôi. Đi tù, “cát xê ga lông”, ra tòa án quân sự vân vân. Và cũng có thể, sẽ chẳng có gì xảy ra cho tôi hết. “Không thể sống mãi như một người vô trách nhiệm”, câu nói của thân phụ lại trở về ám ảnh lấy tôi.
Tôi gật đầu, mặt đanh lại với câu nói quyết định:
– Được, tôi sẽ cất cánh mà khỏi cần phi vụ lệnh. Đại úy cho người đi bay với tôi.
3 khuôn mặt đang buồn thảm bỗng trở nên sáng ngời như những vì sao. Vị đại úy đứng dậy, đưa hai tay ra nắm lấy vai tôi, giọng hớn hở như đứa con nít được quà:
– Em… em bay cho tụi tôi thật à? Thế thì quí hóa quá, hay quá, tốt quá. Thế mới là huynh đệ chi binh chứ. Mà cất cánh… bất ngờ như vậy có sao không? Có kẹt gì cho em không?
Đã lỡ giúp, tôi đành giúp cho trọn:
– Không sao đâu đại úy, cùng lắm thì bị phi đoàn trưởng xài xể chút thôi.
Tôi đứng dậy ra đầu giường để chuẩn bị dụng cụ phi hành. Khi thấy tôi lôi cây AK-47 từ trong góc giường ra, một người hỏi:
– Anh thích xài AK ư?
Tôi hãnh diện khoe:
– Dạ, quà của Trung tá Xuân, tham mưu trưởng quân đoàn cho đấy.
Tôi vốn là một thằng ngược đời. Thằng Hiệp, bạn thân nhất có lần bảo tôi: “Con người mày nó kỳ lạ làm sao ấy. Mày luôn luôn phải có tí gì khác người thì ăn cơm mới thấy ngon. Thiên hạ đeo súng ở thắt lưng thì mày đeo ở nách, đeo lon ở vai thì mày đeo ở cổ, xài M-16 thì mày lại thủ AK coi cứ như một thằng du kích Việt Cộng. Anh em khoái đánh bài thì mày tối ngày cứ ôm mấy cuốn sách mà đọc, thích nói chuyện chơi bời thì mày lại giảng kinh Dịch, bàn chuyện tử vi tướng số hoang đường và triết lý lẩm cẩm. Không biết chừng nào mày mới khá được như chúng tao”
Tôi phóng lên chiếc xe díp của Nha Kỹ thuật. Ông đại úy lái xe, tôi leo ra phía sau ngồi nhưng ông ta nhất định không chịu, bắt tôi ngồi ghế trước với ông. Từ chối không được, tôi đành phải ngồi ở ghế trước. Ông đại úy và ông trung úy kia ngồi sau. Ông đại úy ngồi sau khom tới trước, đưa cho tôi coi tấm bản đồ với những khoanh màu xanh màu đỏ đủ thứ và bắt đầu briefing. Đã bay vùng này mấy năm nên tôi chẳng lạ gì, nhìn qua là tôi nhớ liền. Sau vài phút đồng hồ, tôi đưa một ngón tay lên trời ra dấu nhận và hiểu.
Xe phóng thẳng lên phi trường Quảng Đức là một quả đồi nhỏ. Tôi lên tàu quay máy, chở ông đại úy bay tới vùng làm việc. Chừng 2 tiếng đồng hồ sau tôi đem tàu về đáp. Cả tôi và vị sĩ quan Nha Kỹ thuật hả hê sung sướng vì phi vụ coi như thành công mỹ mãn. Ông ta đã kiếm được hết mấy đứa con đi lạc và gom họ hướng về một LZ an toàn. Ngày mai sẽ có một hợp đoàn trực thăng lên bốc họ về.
Di chuyển tàu về tới bến đậu, tôi loáng thoáng trông thấy mấy cái áo bay nhấp nhô ở đàng xa. Một dấu hiệu không tốt. “Đ.m lại có chuyện rồi”, tôi lẩm bẩm. Biết thế nhưng giờ phút này không phải là giờ phút để hối hận. Muốn ra sao thì ra, tôi cóc cần.
Tắt máy xong, tôi tháo mũ bay, chụp cây AK và leo xuống tàu, bình thản, tự tín. Chiếc xe díp của Nha Kỹ thuật ào tới như một cơn lốc. Vị đại úy Nha Kỹ thuật nọ bước xuống, thân mật đưa tay cầm lấy nón bay của tôi:
– Để tôi đưa em về, mình ghé qua tiệm cơm kiếm chút gì bỏ bụng. Cám ơn em rất nhiều. Tối nay anh em chúng tôi ngủ yên giấc được rồi.
Khuôn mặt ông ta rạng rỡ dưới ánh nắng vàng của chiều cao nguyên Quảng Đức. Tôi đứng yên, hất đầu về phía có nhóm người đang mặc áo bay:
– Cám ơn Đại úy. Nhưng chắc tôi phải cất cánh phi vụ kế tiếp, hình như anh em đang chờ.
Chiến trường đang ở hồi khốc liệt, chẳng ai có thì giờ cà kê lẩm cẩm, chúng tôi vội vã chia tay nhau. Mỗi người trong bọn họ siết chặt tay tôi, nói những lời cám ơn chân tình. Đáp xuống từ một độ cao cho nên hai lỗ tai tôi còn hơi bị ù, nghe được tiếng còn tiếng mất. Tôi không nghe được hết nhưng tôi nhìn thấy hết trong ánh mắt của họ vẻ trìu mến, biết ơn và cảm phục.
Trước khi leo lên xe díp, vị đại úy nọ bảo tôi:
– Tôi hi vọng không có gì rắc rối cho em. Tôi có nói chuyện với ông biệt đội trưởng của em, ổng bảo đối với ổng không có gì trở ngại. Nhưng nếu có gì, cứ gọi cho tôi, tôi sẽ nhờ chiến đoàn can thiệp. Thôi cám ơn em lần nữa nhé. Ráng giữ thân mình, anh em báo cáo Việt Cộng có đem hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 về đây từ hồi đầu chiến dịch đó.
Tôi vẫy tay chào. Chiếc xe lăn bánh đi, nhưng được vào vòng bỗng ngừng lại và de lui đến trước mặt tôi. Ông đại úy hớn hở:
– Vội quá nên quên, tôi có mấy cây AK còn mới tinh, ngày mai tôi sẽ ghé qua biệt đội tặng em một cây làm kỷ niệm.
Tôi mỉm cười cám ơn ông đại úy. Thật ra thì lúc ấy tôi đã chán AK rồi, nặng bỏ mẹ, đang tính bán cây AK đang cầm để mua chai rượu. Tôi nghĩ giá ngài đại úy tặng tôi một chai rượu thì tốt hơn nhưng không dám nói ra. Chiếc xe díp lại lăn bánh. Lần này chiếc xe mất hút giữa đám bụi mù.
Tôi tà tà lê từng bước một đến chỗ bãi đổ xăng của biệt đội. Đại úy Nhơn đã “ghia ghiếc” (một danh từ chỉ phi công đã trang bị phi hành đầy đủ) xong, đang chờ đợi tôi.
Biết thân phận mình, tôi liền biểu diễn một nụ cười cầu tài để “do thám tình hình”. Đại úy Nhơn cười theo, rất thông cảm, rất chân thật. Như thế là quá tốt. Xếp “địa phương” mà thông cảm được như thế thì tôi đỡ được một gánh nặng. Đại úy Nhơn cũng chẳng hỏi tôi đi bay đâu mới về. Đúng hơn, cả hai chẳng nói gì nhiều với nhau. Ông đại úy chỉ bảo cất cánh lẹ lên để còn bàn giao với chiếc L-19 đang làm việc trên vùng.
Suốt phi vụ, ngài đại úy chẳng nói gì về chuyện cất cánh vừa rồi. Tôi cũng lờ luôn. Trước khi về đáp, ngài đại úy chỉ để cập vấn đề của tôi hơi vắn tắt:
– Chuyện đi bay của chú anh coi như không biết. Anh đồng ý chuyện chú làm. Chỉ sợ kẹt là kẹt phi đoàn thôi. Chú biết tính ông Tám mà, ổng biết được thì thế nào cũng có chuyện.
Và phi đoàn trưởng của tôi đã biết được chuyện này ngay cả trước khi tôi về đáp với Đại úy Nhơn. Biết bằng cách nào tôi không biết và cũng chẳng cần tìm hiểu. Xã hội nào, thời đại nào, tập thể nào cũng luôn luôn có những con ký sinh trùng thối tha sống bám vào máu mủ của đồng loại bằng cách báo cáo vặt để kiếm tí điểm, tí ân huệ dư thừa. Cách hay nhất để sống là đừng thèm để ý hay biết đến bọn này. Biết chỉ làm cho mình bực mình.
Ngày hôm đó, tôi bay tổng cộng hơn 10 tiếng đồng hồ nên về đến biệt đội là phóng lên giường ngủ như chết, quên cả ăn uống.
Sáng hôm sau, lệnh từ Nha Trang gọi về: “Không cho Thiếu úy Nhị đi đâu hết. Bảo hắn chuẩn bị hành lý có tàu lên chở về phi đoàn”. Đại úy Nhơn đích thân nhận chỉ thị này sau khi bị xài xể thậm tệ trong điện thoại. Lúc ấy trời còn tối mịt, tôi đang nằm trên giường thưởng thức điếu thuốc Capstan đầu tiên trong ngày. Tôi chỉ nghe ngài đại úy đáp những câu vắn tắt như: “Tôi không biết, Trung tá”, và “Làm sao tôi biết được, Trung tá?”
Chừng đó thôi cũng giúp tôi hiểu được cái số phận của mình. Gát điện thoại cái cụp, Đại úy Nhơn nổi máu giang hồ, đứng giữa phòng chửi đổng cho tất cả biệt đội nghe:
– Đ.m thằng c… hèn hạ khốn nạn nào báo cáo thì phải báo cáo cho đúng. Chuyện thằng Nhị nó làm thì tao biết c… gì, sao lại lôi cả tao vào? Đ.m tao mà biết được thằng c… chó má đó thì tao vặn cổ.
Đã biết tính của Đại úy Nhơn, chẳng có thằng c… nào dám mở miệng. Tiếng quát tháo của ông đại úy phi công lúc trời chưa sáng như vang dội cả núi rừng Quảng Đức. Tôi hút xong điếu thuốc, nằm im nhìn lên khoảng tối âm u trên trần nhà. Âm u như đất nước tôi, dân tộc tôi. Một lần nữa, tôi lại làm phiền Đại úy Nhơn. Ông đại úy này vào tôi có nhiều kỷ niệm lạ lùng tôi sẽ đề cập tới trong một lúc khác.
Chửi bới một lúc xong, ngài đại úy đến bên giường tôi, kêu ra ngoài nói chuyện.
Mặt trời vùng cao nguyên hôm ấy dậy khá trễ, gần 6 giờ mà vẫn chưa chịu ló mặt ra. Tôi và Đại úy Nhơn đứng hút thuốc ngoài biệt đội, trong bóng tối gần tàn của rạng đông, trên một ngọn đồi, nhìn xéo xéo xuống thung lũng mờ mờ phía trước. Gió cao nguyên thổi lồng lộng, hơi lành lạnh làm tăng thêm giá trị của hơi thuốc lá buổi sáng sớm. Dòng sông Dakpla dưới chân đồi, tuy không nhìn thấy nhưng tiếng nước chảy xiết bao trùm cả không gian. Trong một thoáng, tôi cảm thấy yêu cái cuộc đời “tang bồng hồ thỉ” của người phi công. Nay đây mai đó trên khắp nẻo quê hương, tôi thấy mình càng ngày càng gắn bó hơn với cái nơi chốn mà người ta gọi là “tổ quốc”
Khuôn mặt Đại úy Nhơn có dấu buồn phiền mệt mỏi khi đầu điếu thuốc được rít lên:
– Ông Tám kêu em về. U-17 cất cánh rồi, sắp sửa đáp bây giờ.
Tôi trả lời tỉnh bơ:
– Tù là cùng chứ gì.
– Còn phải nói, tù là cái chắc rồi thằng em. Nhưng tù cái không đáng tù mới là đáng nói.
Tôi chẳng thấy buồn phiền gì cả, lính mà:
– Em quen rồi anh Nhơn. Ông Đại úy Tới coi tướng em nói số mày không đeo nổi cái lon trung úy. Thiếu úy là “danh phận tột đỉnh” rồi.
Đại úy Nhơn bỗng bật cười:
– Mày chưa xuống chuẩn úy là may. Nhiều khi tao tự hỏi tại sao quân đội lại để cho một thằng ba gai như mày đeo lon thiếu úy, những thằng ngổ nghịch như tao đeo lon đại úy.
Cả hai chúng tôi cùng cười. Tiếng cười như che lấp cả núi rừng chung quanh. Khi chúng tôi quay vào, vừng thái dương vừa từ từ ló dạng. Cả không gian, cả bầu trời bừng lên một sức sống mãnh liệt. Rạng đông ở quê hương mình đẹp đẽ và hùng vĩ làm sao.
Sáng hôm đó, tôi về lại Nha Trang. Trước khi đi, tôi cũng không gọi điện thoại cho mấy ông Lôi Hổ để từ giã. Tôi biết họ rất tốt nhưng sẽ chẳng giúp gì được cho tôi. Mỗi quân chủng đều có một đường lối làm việc riêng. Hơn nữa, hôm qua trước khi cất cánh tôi đã suy nghĩ kỹ và sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì sẽ xảy đến cho mình…
Khi leo lên tàu giã từ Quảng Đức, tôi vẫy tay chào Đại úy Nhơn và chẳng hề cảm thấy hối hận chút nào mà trái lại, còn cảm thấy hãnh diện nữa. Tôi đã sống như một người có trách nhiệm như thân phụ tôi đã dạy.
Vào trình diện ông Tám, tôi tỉnh bơ đưa tay lên chào mà không hề thấy sợ sệt hay mặc cảm gì cả. Ông mời tôi ngồi, nói chuyện với tôi bằng một giọng nhỏ nhẹ làm tôi hơi ngạc nhiên. Ông hỏi tôi chuyện gì xảy ra. Tôi kể lại mọi chuyện rồi kết luận:
– Thưa thầy (tục lệ của phi đoàn quan sát gọi người dạy bay mình là thày), chính tôi đề nghị bay giúp họ. Họ không có ép hay năn nỉ gì cả. Tôi thấy cần bay phi vụ đó nên tôi bay. Đơn giản như thế thôi. Bây giờ thì tôi chấp nhận mọi hình phạt của thầy.
Tôi nhìn thằng vào mặt ông Tám mà nói như thế. Lần đầu tiên, tôi thấy ông có vẻ hơi bối rối. Nhưng ông nắm được thế thượng phong ngay:
– Chuyện anh làm có thể… đúng. Nhưng anh nghĩ coi, quân đội sẽ như thế nào nếu ai muốn làm gì thì làm. Phi công muốn cất cánh thì cất cánh, lính Thiết giáp muốn lái xe tăng đi đâu thì lái vân vân. Nếu ai cũng như thế thì làm sao có thể điều hành và chỉ huy một tập thể to lớn như quân đội được…
Lại bài mo ran cũ rích mà lúc ấy tôi chẳng còn muốn nghe nữa. Dĩ nhiên là ông ta nói đúng, nhưng bây giờ tôi không muốn ngồi đây để nghe giảng hay cãi lý với ông ta. Mẹ, trước sau gì cũng đi tù, tôi muốn đi tù càng sớm càng tốt. Tôi cảm thấy mệt mỏi. Sau hàng trăm phi vụ hành quân ở Quảng Đức gần tháng qua, tôi muốn nghỉ ngơi, muốn ngủ một giấc thật dài dù là ở cải hối thất hay ở đâu. Ít nhất, ở trong tù Nha Trang, tôi không sợ bị ăn đạn pháo kích của giặc. Tự nhiên, tôi đâm liều:
– Trước sau gì tôi cũng đi tù, thầy cho tôi đi sớm chừng nào tốt chừng đó. Tôi mệt mỏi quá rồi, không có thì giờ ngồi đây để nghe giảng…
Trung tá Tám như khựng lại sau câu nói liều lĩnh của tôi. Phi đoàn tôi chưa có ai nói chuyện với sếp lớn kiểu này. Nhưng con người có sức chịu đựng của nó.
Suy nghĩ một lúc, ông nói:
– Được, tôi sẽ cho anh đi tù…
Câu tiếp theo sau làm cho tôi giật nẩy mình:
– Tôi đã nói anh là một người có tâm hồn và tài năng. Tôi đã không lầm.
Tôi chưa biết nói gì thì ông tiếp:
– Nói thật với anh rằng hôm qua nếu tôi là anh, thì tôi cũng làm như anh mà thôi. Anh xứng đáng là một phi công tài giỏi của Không quân. Nhưng, với cương vị là phi đoàn trưởng của anh, tôi phải phạt anh. Phạt nhưng rất phục.
“Phục cái kiểu… mẹ gì lại bắt tôi đi nhốt”, tôi nói với lòng mình như thế và đứng lên đi ra, chẳng muốn nói gì thêm nữa.
Ra khỏi phi đoàn, tôi leo lên chiếc xe díp của Quân cảnh đã đợi sẵn bên ngoài. Ngồi trên xe trực chỉ cải hối thất Sư đoàn 2/KQ, tôi lẩm bẩm: “Mẹ, lại những chiếc xe díp…”
Sáng hôm sau, tôi được thả ra kèm một sự vụ lệnh đi phép 5 ngày…
Đó là lần thứ tư và cũng là lần ủ tờ cuối cùng của tôi. Nhưng như đã nói, lần này, khác hơn những lần trước, tôi lừng lửng bước vào cải hối thất, đầu ngẩng lên cao, lòng cảm thấy sung sướng, không hề hối hận, không chút gì buồn phiền…
Đó là một lần rất ít trong cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường ngắn ngủi của tôi, tôi cảm thấy đã làm một việc gì thật sự cho quê hương đất nước. Nếu phải bắt đầu làm lại từ đầu, tôi cũng sẽ không ngần ngại làm y như cũ.
Ngày hôm sau, tôi cũng quên không gọi lên biệt đội xem có ai tặng tôi cây AK không. Và tôi cũng chẳng bao giờ có dịp gặp lại vị đại úy Nha Kỹ thuật tận tâm nọ…
Mười mấy năm sau trên đất khách, tôi hi vọng người đại úy ngày nọ của Nha Kỹ thuật, nếu trời còn thương để cho đại úy không tự sát ngày 30 tháng 4, hay đã không bị kẻ thù giết chết trong các trại tù, và vượt biên được sang thế giới tự do này, nếu đọc được bài này, không hiểu Đại úy còn có nhớ đến một buổi trưa ngút ngàn khỏi lửa ngày nào tại quận lỵ Quảng Đức quê mình? Tôi chẳng dám đòi cây AK Đại úy đã hứa đâu, chỉ muốn tỏ một chút lòng ngưỡng mộ đối với Đại úy, với anh em Nha Kỹ thuật. Nếu Đại úy đọc được những hàng chữ này, thì dù có cách trở xa xôi, dù tâm hồn đã héo hon tàn tạ sau mười mấy năm đau thương tủi nhục, xin hãy cùng tôi cất lên tiếng cười cho một chút quá khứ đáng hãnh diện. Chúng ta là những người trài sinh nhằm thời loạn, đành phải mặc áo nhà binh để bảo vệ non sông tổ quốc. Tôi biết Đại úy cũng như tôi, chúng ta nào có thích gì cái trò chơi lửa đạn, mê gì cái bông mai vàng trên cổ áo với số lương tháng không bằng một ngày làm việc của anh tài xế taxi. Ngày xưa, trong cơn binh lửa, chúng ta là những kẻ bị thiệt thòi nhiều nhất. Ngày hôm nay, tàn cuộc binh đao, chúng ta lại là những kẻ bị trả thù tàn nhẫn nhất, bị hành hạ và lăng nhục nặng nề nhất. Hàng trăm thứ tội đều được đổ lên đầu chúng ta, gọi chúng ta bằng những danh bỉ ổi hèn hạ nhất như “nợ máu với nhân dân”. Nợ gì khi chúng ta đã bỏ hết tuổi thanh xuân quí giá đi nằm gai nếm mật, băng rừng lội suối, ngủ bờ ngủ bụi ngày này qua tháng nọ để gìn giữ cho xóm làng được yên vui, cho trẻ thơ được rộn rã tiếng cười, cho buổi họp chợ ban mai được yên lành trong nắng sớm, cho mái chùa cong cong còn được gióng lên những hồi chuông tín mộ, cho ngôi giáo đường thành phố còn nhịp nhàng vang lên những bản thánh ca nghe dịu dàng thanh thoát như những tiếng hát của thiên thần?
Nợ gì đây? Đồng bào miền Nam mình chắc cũng đã thừa biết ai nợ ai rồi…
Nếu còn có thể khóc được sau tiếng cười vừa rồi, thưa Đại úy, xin hãy khóc lên, không phải cho chúng ta nhưng cho hơn 1 triệu anh em đồng đội của chúng ta đã anh dũng ngã gục dưới cờ, chết thay cho cả dân tộc. Chính những sự hi sinh cao cả này của đồng đội mà chúng ta không thể để mất niềm tin. Chúng ta không được để những cái chết cao cả đó trở thành vô nghĩa. Chúng ta sẽ không bao giờ xao lãng cái sứ mạng mà tổ quốc và dân tộc Việt Nam đã long trọng giao phó: Ngày xưa là giữ gìn và bảo vệ non sông tổ quốc và bây giờ là quang phục lại quê hương. Theo kinh Dịch, trong đại họa là cái mầm của đại phúc, trong tận cùng thống khổ là bắt đầu của thời đại an vui sung sướng. Chúng ta phải vững niềm tin. Chúng ta đều đã thật sự trưởng thành trong nước mắt, trong tủi nhục, trong đau thương thống khổ cùng với quê hương và dân tộc mình. Càng bị sĩ nhục, càng bị hành hạ, càng bị khinh bỉ, chúng ta càng trở thành những chiến sĩ, những cán bộ tài giỏi cần thiết cho công việc quang phục quê hương sau này…
Kính thưa quí vị,
Tôi vừa kể lại cuộc đời binh nghiệp khiêm nhường của mình, rất chân thành, không dấu diếm những hèn mọn, không khoe khoang quá đáng những cái hay. Tôi có đủ can đảm của một người lính để chấp nhận mình là kẻ thua trận, xứng đáng bị lăng nhục, bị chê trách, bị chửi bới. Tôi không có gì nói để biện mình cho tôi cả. Bây giờ, mỗi lần nhìn thấy chim bay trên trời, lòng tôi cảm thấy đau xót và tiếc nuối vô cùng vô tận. Không phải tôi tiếc nuối những giây phút lồng lộng giữa trời xanh bát ngát vì bên Mỹ này, chỉ cần bỏ ra 25 đô la một giờ là tôi sẽ mướn được một chiếc phi cơ còn đẹp hơn chiếc L-19 của tôi ngày xưa nhiều, tha hồ và vung vít, tha hồ mà nhào lộn. Cũng không phải tôi tiếc nuối vì đã mất đi cái mác “thiếu úy phi công” trong bộ đồ bay màu xanh da trời với cái khăn quàng màu trắng nơi cổ và cây Colt lủng lẳng bên hông. Tôi đau xót và tiếc nuối thật tình, lòng tôi héo hon phiền muộn vì biết mình đã phần nào chịu trách nhiệm trong việc làm mất đi cái vòm trời vô giá của tổ quốc mến yêu. Cho cái thuở xa xưa, dù đã được giáo dục đầy đủ, được quân đội cưng chìu ưu đãi, tôi đã ít khi nào biết hết lòng tận trung báo quốc. Cho cái tuổi trẻ yêu dấu đã âm thầm vĩnh biệt tôi ra đi mãi mãi không bao giờ trở lại. Và, thật sâu trong đáy trái tim rướm máu của một người phi công lưu lạc, tôi đau đớn tiếc thương cho những chiến sĩ của một quân đội kiêu hùng đã nằm xuống, chấp nhận chết thay cho cả dân tộc, trong đó có tôi.
Mỗi năm, vào độ xuân về, khi cầm nén hương đứng trước bàn thờ tổ quốc, nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ uy nghiêm giữa hương khói ngút ngàn, hai hàng lệ của tôi cứ tuôn tràn ra mãi không sao cầm được. Tôi thấy hình bóng của 1 triệu người anh em đồng đội tôi, trong đó có em ruột tôi, có vợ chồng chú Bốn tôi, chập chờn ẩn hiện sau lá cờ đó. Và năm nào cũng thế, tôi đều thề với trời đất rằng sẽ dùng hết quãng đời còn lại của mình để phụng sự tổ quốc. Tôi biết bây giờ mình đã già, thêm nợ thê nhi chồng chất, ắt khó mà cầm súng được. Nhưng tôi còn ngòi bút, còn lá phiếu để đi bầu, còn nhiều… tài vặt, và quan trọng hơn cả, tôi còn một ý chí sắt đá trong lòng mình.
Người ta bảo là chúng ta đã thua giặc không phải trên chiến trường ở Việt Nam mà tại Hoa Thịnh Đốn, vậy thì, với một triệu người Việt Nam di tản ở đây, tại sao chúng ta sẽ không thắng được chúng cũng ngay tại Hoa Thịnh Đốn này?
Để kết luận, tôi xin viết lại một đoạn trong bài diễn văn của Thủ tướng Winston Churchill đọc trước quốc hội Anh ngày 4 tháng 6 năm 1940, sau cuộc rút lui thảm bại và ô nhục của quân đội Anh tại bờ biền Dunkirk. Trong những ngày lịch sử tăm tối đó, thật tăm tối và tràn đầy tủi nhục như chúng ta bây giờ, con sư tử lừng danh của Anh quốc đã rống lên thảm thiết với hàng nước mắt chảy dài trên má như sau:
We shall go on to the end. We shall fight on the seas and oceans… We shall defend our country, whatever the cost may be. We shall fight on the beaches, we shall fight on the landing ground, whe shall fight in the fields and in the streets, we shall fight in the hills; we shall not surrender. We shall never surrender…”
Hôm nay, trong những ngày tăm tối u buồn của quê hương Việt Nam, hỡi những người Việt Nam lưu lạc, xin hãy cùng tôi nói với lòng mình như thế và xin hãy giữ vững niềm tin…
Trường Sơn Lê Xuân Nhị

October 14, 2014 Posted by | * Truyện | Leave a comment

an phú vang – có một chỗ về nghe

Từ phải, hàng đứng: Nguyễn Văn Nghị [gật], Tuấn, Tấc hí, Phi Dũng, Anh què, Huỳnh Thạch, Mùi Lê, Sơn Nam, Cung Thế Hồng Minh, Anh đùi heo, Lê Xuân Dung, Quang xẹp hí, Mùi Nguyễn; hàng ngồi Trần Quốc Hùng, Nguyễn Trọng Tiến, Hồ Hữu Nhơn, Trương Duy Long. Sân bóng rổ trường Phan Chu Trinh. Sau lưng là đường Duy Tân. Ảnh Giáo Sư Pháp Văn Đặng Đăng Khoa.

Từ phải, hàng đứng: Nguyễn Văn Nghị [gật], Tuấn, Tấc hí, Phi Dũng, Anh què, Huỳnh Thạch, Mùi Lê, Sơn Nam, Cung Thế Hồng Minh, Anh đùi heo, Lê Xuân Dung, Quang xẹp hí, Mùi Nguyễn; hàng ngồi Trần Quốc Hùng, Nguyễn Trọng Tiến, Hồ Hữu Nhơn, Trương Duy Long. Sân bóng rổ trường Phan Chu Trinh. Sau lưng là đường Duy Tân. Ảnh Giáo Sư Pháp Văn Đặng Đăng Khoa.

Có Một Chỗ Về Nghe – truyện An Phú Vang

October 9, 2014 Posted by | * an phú vang, * Truyện | Leave a comment

Một Ngày Trong Đời Của Mạ

Một Ngày Trong Đời Của Mạ [Pháo Bông Đêm Lễ Độc Lập Ở Santa Ana]

Mạ bệnh. Bệnh lẫn của người già. Đêm thứ năm, cô người làm gọi thằng con: “Anh ơi! Ngày mai anh có nghĩ lễ 4 tháng 7 [ lễ Độc Lập 4 tháng 7, Mỹ Quốc ] ?” “Có em…” Thằng con nói luôn với cô nhỏ, người giúp đỡ mạ tắm rữa, ăn uống mỗi ngày khi chàng đi làm: “Em nghỉ lễ luôn đi. Ở nhà đưa con đi chơi.” “Dạ cám ơn anh.”

Ma' - Euclid St Santa Ana - 2-2014 - 2Thằng con dân “hardware… hardware engineer”, làm việc liên quan đến “hard disk drive”, “memory”, laptop”, “mother board” nên nhiều khi méo mó nghề nghiệp. Nghe hắn đùa với Trung [ Mọi ] hôm nào: “‘Memory stick’ trong đầu mạ bị hỏng cả rồi! Thỉnh thoảng bà già tỉnh, nhớ chuyện từ thuở đó, ở chợ Đống Đa Đà Nẵng, hỏi vài câu làm tau ngớ. Tau chỉ nhớ chợ Đống Đa nằm ở đường Đống Đa. Khúc này đi vô có nhà Thân Trọng Phương, Thân thị Phong Lan, Nguyễn Tiên Hoàng, Trịnh Cẩm Vân…” ” Nguyễn Tiên Hoàng. Thường Quán phải không?” “Còn ai nữa. Tụi tau chơi bóng rổ với nhau lúc còn trong xóm Thuận Lập A, Thuận Lập B ” “Quả đất này nhỏ xí hỉ!” Nghe Trung [Mọi] dùng chỉ “hỉ” ai đó người Huế hay dùng vui vui.

Sáng ngày lễ nhằm thứ sáu, thằng con ngồi chơi và coi chừng mạ đến khi hết trận đá banh của Đức và Pháp thì nhận được “text message”của đứa cháu. Chi, em  thằng Trung ở bên Trinh Sát Dù, theo chồng qua San Antonio Texas mấy năm trước: “Chú ơi, cháu muốn thăm chú.” “Cháu đang ở California hay đang trên đường qua?” “Dạ cháu đến hồi đêm…” Con cháu gái tôi gặp ngoài Dương Nổ, Phú Vang khi về nhập dân làng Dương Nổ. Mấy ôn [ ông ] và mấy bác nói “con thằng V. gốc ở ngoài ni, phải nhập dân ni để lấy ruộng”. Tôi về lúc đó anh chị Quít, ba mẹ Trung và Chi, ở chỗ gần cầu chợ Nọ. Con Duyên còn bồng Chi chạy theo thằng chú ở Đà Nẵng ra Huế, chẳng lớn gì hơn cháu.

Thằng con mở cải lương cho mạ coi. Đến gần trưa, hắn rũ mạ đi lấy phở ở phở gà ĐaKao. Tiệm này cũng như tiệm bán thức ăn Liên Huế đã trở thành “nơi tiếp tế đồ ăn” cho hai mạ con. Câu đặt hàng quen thuộc: “Hai tô phở gà. Mười phút ghé lấy”. Ở Liên Huế: “Hai tô bún bò nhỏ, lấy đủ thứ. Bao nhiêu vậy em?” Thằng con đâu biết nấu nên “cơm hàng cháo chợ”. Lắm lúc nhờ Thục Trinh kho giùm nồi cá hay thịt, mang về để tủ lạnh, hai mạ con ăn dần trong tuần. Có lần ghé qua Liên Huế, lấy tô bún bò cho mạ, nghe hỏi: “Những lần trước anh mua hai tô. Răng hôm ni chỉ một!” Thằng con nhủ thầm “trời đất”: “Tô này mua cho mạ anh. Hôm nay anh nhác ăn [ làm biếng ăn ]”

Một lúc mệt con nằm thiu thiu. Mạ làm gì không biết. Khi con mở mắt, nhìn ra cửa sổ thấy mạ đang hốt lá ngoài sân thằng con mới hoảng: “Mạ đừng làm nữa. Mạ ngã sưng chân như lần trước rồi ai lo? Lúc đó, đi đứng không được. Con cõng mạ không nổi. Tiêu tiểu tiện gì đều là cực hình mạ nhớ không!” Mạ gật đầu nói mạ nhớ. Thằng con càu nhàu: “Mạ nhớ mà con dặn hoài. Con giữ mạ, nhắc chừng sau lưng mạ còn không nghe nói gì người giúp việc.” Giờ mới biết cái khổ của cô người làm cho mạ mỗi ngày. Giữ một người già bệnh lẫn cực lắm! Nhưng mà mạ của tôi. Tôi thương. Em út ở gần, ở xa, đứa nào cũng lo làm giàu, “bán cái mạ lại cho tôi” thì kệ chúng. Mai mốt mạ qua đời đừng than van khóc lóc như thiên hạ vẫn làm, vẫn rêu rao. Mạ “làm bậy” ra đó, dắt đi tắm, không em gái, tôi làm luôn chứ nhờ ai. Gom áo quần dơ, đi giặt mà “ẹ chết luôn”. Tôi “rinh nguyên gia đình” hai lần bảo trợ qua Mỹ để làm gì không biết nữa!

Bảy giờ đêm ngày lễ Độc Lập nhiều nơi đã đốt pháo. Trung [Mọi] đang ở nhà chị Thơ dưới Lake Forest, lai rai với đám bạn, chờ coi pháo bông. Nơi đó vui lắm. Chừng ba năm trước, thằng con có chở mạ xuống đó, chơi với má vợ rồi coi pháo bông họ đốt ngoài hồ đã mắt. Năm này mạ bệnh quá rồi. Chở đi “làm bậy” ở nhà người quen kỳ chết nên thằng con từ chối Trung [ Mọi], ở nhà lai rai với mạ chai rượu chát. Cho mạ uống để mạ đi ngủ cho dễ. Nhưng pháo nổ ồn quá. Mạ sợ. Ôm gối qua phòng thằng con. “Sao vậy mạ? Sao mạ không ngủ bên đó?” “Cái chi nổ lớn rứa mi? Việt Cộng phải không?” Mạ tôi ám ảnh chuyện gì đây khi đầu óc bất chợt nhớ lại chuyện xa xưa. Những đêm Đà Nẵng bị tụi “răng đen mã tấu” pháo kích. “Không phải mạ ơi. Lễ Độc Lập Mỹ Quốc họ đốt pháo bông?” Mạ chỉ xuống chỗ trống cạnh giường thằng con ngủ, ý muốn nằm tạm. “Mạ muốn ngủ trên sàn trong phòng con?  Không có chi mô mạ. Mạ sợ hả? Pháo bông nổ thôi mà!” Thằng con nhìn mạ lom khom ôm gối, cái khăn mặt và cái áo, sợ sệt. Thấy thương. Dắt mạ về lại phòng ngủ, nói mạ ngủ đi, đừng đóng cửa phòng. Con cũng mở cửa phòng ngủ của con để coi chừng mạ. Không có Việt Cộng nào ở đây đâu. Thằng con nói, nhìn xuống cái áo “field jacket” ngụy trang với huy hiệu Sư Đoàn Dù Đặng Hòa Bình tặng ở trong phòng. Chừng mười lăm phút sau mạ lại ôm gối đi qua phòng thằng con, nói cái gì nổ lớn, mạ sợ quá. Thằng con hơi bực, nói mạ về ngủ lại đi. Việt Cộng nào ở đây… bắn thí mẹ nó! ./.

An Phú Vang 5 tháng 7, 2014

July 5, 2014 Posted by | * an phú vang, * Truyện | 6 Comments