Q U Y Ê N B O O K – nna

Góc nhỏ của An và bằng hữu

Thương Nhớ Hoàng Lan

Tôi sinh ra dưới một mái chùa. Nghe kể rằng sư phụ tôi khi ấy còn trẻ, một hôm đi ngang bỗng động tâm hỏi: Mô Phật, sao sau chùa lại phơi tã lót? Nghe chuyện đời cha tôi, thầy bảo: Hãy nhớ ngày này. Nếu có cơ duyên, mười năm sau ta sẽ trở lại. Trở về thầy bỏ tăng viện, lên một ngọn núi hẻo lánh trong rú xa, dựng mấy nếp nhà cổ. Từ ấy, thầy ẩn tu, hiếm khi xuống núi. Lớn lên, tôi giống cha tôi như đúc và rất được mẹ yêu chiều. Cha tôi mắt sáng, mũi cao, tiếng nói trầm ấm, tính tình hiền hoà trung thực. Khi còn là một chú tiểu đầu để chỏm, người đã nổi tiếng thông minh, mười lăm tuổi chép rành kinh chữ Hán. Rồi vì học giỏi, được cử làm giáo sư ở trường Trung học Bồ Đề, một trường phổ thông tư thục của Giáo hội. Lúc người sắp được phong Đại Đức thì gặp cô bé nữ sinh tinh nghịch, có đôi mắt hút hồn, đôi môi đầy đam mê và cái tính thích gì thì làm cho bằng được. Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của thầy. Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy. Cả chùa ngẩn ngơ khi người thanh niên đạo hạnh vòng tay trước sư cụ trụ trì: Yến bệnh nặng đã bốn tháng rồi, sợ rằng cô ấy chết. Thầy dạy con tu hành để cứu chúng sinh. Nay con có thể cứu một sinh linh, sao lại khước từ? Cha tôi rời chùa, cô Yến khỏi bệnh rồi hai người thành vợ thành chồng. Ông bà tôi để lại một ngôi nhà, cha tôi cho dỡ đi, xây vào chỗ đó một ngôi chùa tư. Đã không bỏ đời theo đạo được, thì ông đem đạo về giữa đời. Sau khi đã có con, ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và tụng kinh sớm chiều. Có lần mẹ tôi đi chợ mua một xâu ếch, những con ếch theo phản xạ cứ chắp hai chân trước vái lia lịa. Một bà đi ngang bảo mẹ tôi: Mấy con ếch lạy khéo không thưa thầy M.H. Rồi bà cười ha hả: Đi tu mà chẳng trót đời, làm thân con ếch cho người lột da. Mẹ tôi mau nước mắt, cứ vừa đi vừa khóc thút thít cho đến lúc tới nhà. Tối đó bà kèo nhèo mãi, năn nỉ mãi cha tôi tội gì không để tóc, ngả mặn, làm người trần cho sướng cái thân. Tu kiểu này, người ta nói không chịu nổi. Cha tôi chỉ cười, dường như chẳng để tâm. Cả đời người không tranh giành với ai mà như có phép thần thông, chạm vào đâu thì phất lên đến đó. Cơ sở làm hương trầm của người càng phát triển, mẹ tôi càng béo đẹp ra thì lời đàm tiếu của thiên hạ càng rần rần. Cuối cùng, chẳng hiểu vì sao, mẹ bỗng đột ngột bỏ đi mất tăm… Cô ruột tôi giận lắm, bảo: Mẹ mi là con yêu tinh, khi trước đã phá đời tu của cha mi, chừ lại phá luôn đời tục của ổng. Ai cũng khuyên đăng báo tìm, nhưng cha tôi chỉ nói Đừng. Ông không trách móc gì, nhưng có lẽ ông buồn, tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải. Chao ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây Phương? Cơ sở làm hương từ đó phó mặc cho cô tôi. Cô tôi cho chặt cây, nhổ cỏ, sửa sang lại khu vườn sáng sủa. Thiệt là hư sự, ai đời lập chùa mà lại trồng hoàng lan trong sân. Mùi hoàng lan là mùi ma, hèn chi ma chướng nó phá cho như thế ni. Tôi dân dấn nước mắt nhìn người ta chặt cây hoàng lan, cành lá vứt bừa bãi trên mặt đất. Ngày xưa, gội đầu xong mẹ tôi thường hái hoa giấu vào búi tóc cho thơm. Bây giờ người đã đi, hoa cũng không còn… Năm tôi mười tuổi, có vị Đại Đức trên núi về thuyết pháp ở chùa Diệu Đế. Tôi đi theo cô tôi đến nghe. Khi trở về tôi xin xuất gia. Cha tôi bảo: Kinh sách ở đây, chuông mõ ở đây, con còn đi đâu? Tôi chỉ lắc đầu… Nơi thầy tôi ẩn tu là Bích Vân am – am Mây Biếc. Mười năm khai sơn, thầy đã cùng đồ đệ trồng hơn hai chục mẫu bạch đàn và ba ngàn giò phong lan đủ loại. Các sư huynh dạy tôi chăm hoa, tưới cây mỗi sáng. Buổi chiều đi học ở trường Nam Giao. Năm mười lăm tuổi tôi bắt đầu chướng tính. Sư huynh hạch tôi: Bạch thầy, Đăng Ninh trốn học, la cà ở quán cà phê Tím. Người quanh đó ai cũng chê cười, họ nói cô ruột Ninh làm hương giàu có, cúng dường nhiều tiền nên thầy thả cho Ninh tha hồ tự tung tự tác. Tôi ức, lầm lì không nói, thầy cũng không quở. Tính thầy rất nghiêm, không mấy khi la rầy mà đồ đệ ai nấy tuân lời răm rắp. Chỉ riêng với tôi, không hiểu sao thầy đặc biệt khoan thứ. Sợ thầy phạt, đợi lúc sắp tụng kinh, tôi biện bạch: Bạch thầy, ngày xưa cha con thường bảo: tu trên núi, tu giữa chợ mới là khó. Không ở giữa đời, làm sao hiểu đời đục mà tránh? Thầy hỏi: Ai bảo con là đời đục? Đời không đục, không trong. Tôi hụt hẫng, không hiểu ý thầy định nói gì. Tu trên non bây giờ thật ra cũng không phải dễ. Thầy tôi tránh đời vào núi sâu nhưng rồi vườn lan Mây Biếc nổi tiếng quá nên người trần lại kéo lên thưởng ngoạn. Thứ bảy, chủ nhật, học trò đạp xe lác đác trắng trên con đường mòn tới thảo am. Mấy cô nữ sinh nhỏ tuổi mê hoa ngẩn ngơ ngắm bông súng tím trong hồ, chạy vào tới tận hiên, chỗ thầy ngồi viết sách. Thầy không quở, cũng không ngẩng lên nhìn. Một cô bé chạy đến gần tôi, nhìn những làn sương li ti mà tôi đang xịt lên những chồi đang đơm nụ. Cô hỏi tôi tên hoa, tôi giảng: Đây là giống Tiểu Hồ điệp, nghĩa là bươm bướm nhỏ. Em thấy không, trông xa chấp chới như đàn bướm cải màu vàng. Cô chìa tay với những ngón búp măng, hứng sương. Tôi cau mày: Này, đừng nghịch. Cô bé cứ đùa với những bụi nước, chẳng để ý lời tôi. Anh cứ tưới đi, em cũng là Lan. Tôi cáu, xịt cho nước rơi ướt cả tóc, cả áo cô bé. Mấy cô bạn cười rúc rích, khi về có cô còn nói vọng lại: Con Lan hên quá, gặp chú tiểu vừa đẹp trai vừa quậy. Tôi tủm tỉm cười. Sư huynh tôi cáu kỉnh: Mấy con Thị Màu đời nay quá quắt lắm. Bay không biết quyến rũ sư tăng là tội đoạ địa ngục hử? Tôi cự: Người ta chỉ đùa thế, có gì mà gọi là quyến rũ. Từ đó, vài hôm một lần, Lan lại đến giúp tôi tưới hoa. Tôi dạy cho cô biết về phong lan, đây là cả một thế giới còn đa dạng hơn thế giới người. Phượng Vĩ đỏ rực, Tuyết Điểm thì trắng, Vũ Nữ thì như đang múa trước gió. Lan phụng phịu: Hoa nào cũng có tên riêng, chỉ em không có. Tôi nhìn khuôn mặt cô, đôi mắt trong trẻo với cái miệng hồn nhiên như trẻ thơ Vậy tôi đặt cho cô một cái tên. Tên cô là Tinh Khôi. Thầy biết tình thân giữa tôi và Lan. Sư huynh không vui lòng, thầy chỉ bảo: Không can gì. Bạch thầy, người này có bạn thì người kia có bạn, rồi con gái kéo đến đầy thảo am, còn cái thể thống gì nữa? Thầy gật đầu. Chiều lại, tôi mài mực hầu thầy, thầy đem cho tôi xem bộ tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu. Đây là thập mục ngưu đồ, cũng là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu, mà chính là cái tâm ta đó. Tôi động lòng, hỏi: Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối cùng, không còn trâu, chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài, không can hệ đến sự giác ngộ bên trong. Thầy cười: Đúng, con ạ, với bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Đến khi cái tâm vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không ràng không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên chín tầng mây. Tôi vái thầy mà thưa: Con hiểu rồi, nhưng nhà chùa chẳng thể xua đuổi ai. Từ mai con xin thôi không giữ vườn lan nữa. Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi. Anh không thích phong lan nữa sao?. Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoàng lan. Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng như màu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ rằm, mồng một, các bà hàng hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh toả thơm ngây ngất. Lan bảo: Thích ghê, em chưa thấy bao giờ. Ừ, loài cây ấy có lẽ giờ đây đã tiệt giống rồi hay sao, nhiều lần theo sư huynh đi chợ mua bông chuối, tôi để ý tìm mà không thấy nữa. Tôi lớn lên, lòng bâng khuâng như thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ nhớ, thương thương… Cuối năm, anh em tôi kẻ kéo người đẩy, chở phong lan xuống phố đổi gạo. Ông chủ tịch hội hoa cảnh hài lòng lắm khi thấy những giò mũm mĩm với chồi xanh đầy nụ. Ba bao gạo lớn được bưng ra. Cha ơi, con có làm một ít bánh trái cây để cúng dường.Tôi nghe tiếng, quay lại, sững người vì thấy Lan. Ông chủ tịch âu yếm bảo: Cúng dường thì phải cung kính. Con phải tự lên chùa lạy Phật mà dâng. Tôi hãi hồn, vội nói: Thôi thôi, khỏi phiền nữ thí chủ. Nhận ngay ở đây. Lan bật cười, lại cái cười tinh khôi. Rồi Lan nhìn tôi buồn thiu: Sao lâu nay anh không ra vườn? Em lên chùa, biết anh trong bếp mà mấy chú không cho vào. Riết rồi em buồn không muốn đến nữa. Mấy buổi sau, tôi theo các bạn cùng lớp vào quán. Lan ngồi ở đó, sau chiếc bàn con bên cửa sổ. Các bạn tôi ai cũng nhìn về phía Lan, còn cô bé thì chẳng nhìn ai, cứ lặng lẽ một mình. Ngồi ở một bàn xa mà tôi như thấy cả bầu trời hoàng hôn tím, tím ngát ngoài kia đang in trong đôi mắt Lan. Mãi đến khi chúng tôi ra về, Lan mới ngoái nhìn, ánh mắt thơ ngây mà não nùng. Bỗng dưng đỏ mặt, rồi tôi thấy hoảng sợ vì mình đã đỏ mặt… Một người con gái chiều nào cũng ngồi ở quán Tím, chẳng bao lâu đã thành đề tài để bọn con trai bàn tán Con Lan sữa tươi trông xinh vậy chứ nó mắc bệnh sợ đàn ông. Đếch thằng nào đến gần được, nó tránh như tránh tà. Không phải đâu, nó giữ giá để chờ lấy Việt kiều, thằng Hùng ở Cali về ngày nào cũng trực ở nhà nó. Giữ giá cái gì, nó ưa thằng Quắn chạy bàn ở cà phê Tím. Tao thấy nó ngồi một bàn với thằng
Quắn, khóc rưng rức. Tôi im lặng, một lát sau mới bảo: Khó tin. Ở đời chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra – bạn tôi nói, vẻ ông cụ non – Chiều qua chính mắt tao thấy nó chạy ra sau quầy đưa bức thư cho thằng Quắn. Đạp xe về đã đến quá lăng Tự Đức, tự nhiên tôi bứt rứt không chịu được. Tôi quay xe, đạp về nhà Lan. Mưa phùn lướt thướt trên con đường về Bao Vinh xa tắp. Mẹ Lan hỏi: Nhà chùa có việc gì mà nhắc cháu lên? Thấy Quắn về nhắn, tôi cho cháu đi ngay rồi. Tôi tái mặt, không kịp chào, đạp xe đi như tên bắn. Tim tôi dội thình thịch vì âm vang những lời nói của sư huynh khi Lan mới lên thảo am lần đầu: Cô gái này đẹp đẽ thanh tú nhưng đuôi mắt quá dài, môi mỏng, cổ cao, tai nhỏ. Đấy là tướng hồng nhan mệnh yểu…. Trời chập choạng tối, tới Nam Giao. Nhìn dáo dác hai bên đường, tình cờ thấy Quắn và Lan cùng ngồi trong quán ốc. Quắn gọi rượu, đang ép Lan uống, Lan lắc đầu, Quắn cố nài. Tôi đi vào, đấm mạnh vào mũi Quắn: Đồ lừa đảo. Từ nay chừa cái thói dỗ gái đi. Quay sang Lan, tôi nạt: Đi về! Không biết Lan có bị một thứ thuốc mê gì không, mặt ngây ngây như bị bỏ bùa. Tôi chở Lan đi. Quắn biết tôi có võ Thiếu lâm nên đành chịu phép, hậm hực chùi máu mũi nhìn theo, cái nhìn của một con thú mất mồi… Trên đường về, Lan tỉnh lại, gục mặt vào lưng tôi, khóc: Em nhờ Quắn chuyển đến anh nhiều thư, anh có nhận được không? Tôi cau mặt: Em khờ lắm, sao lại đi với thằng Quắn? Quắn bảo em uống vài chén cho ấm rồi lên đàn Nam Giao chờ Ninh đến. Em đừng quên, tên em là Tinh Khôi. Đừng dại dột để bọn lưu manh làm nhơ bẩn. Nước mắt Lan chảy thấm qua chiếc áo lam của tôi, thấm vào đến da thịt. Dừng xe, tôi ngồi xuống vệ cỏ ven đường. Lan ngồi bên tôi. Đêm nào nằm mơ cũng thấy anh dắt em đi thăm vườn phong lan. Mình về trồng lan trong sân nhà em đi, có thích hơn không? Tôi không trả lời, ngắt những cọng cỏ, vò nát trong đôi tay run run. Trên kia, trăng sáng quá, tròn và rực rỡ như chiếc mâm vàng giữa trời. Bỗng nhiên lòng tôi miên man nhớ những câu chuyện cha tôi vẫn kể ngày xưa… Em có thích nghe chuyện cổ tích không? Thích. Tôi kể cho Lan nghe chuyện người tử tù đội chiếc mâm vàng đầy nước đi từ cổng hoàng cung vào trước ngai vua mà không sánh ra ngoài một giọt, Lan nghi ngờ: Sao có người làm được như thế? Tôi gật đầu: Ngày ấy, nhà vua cũng đã hỏi như vầy. Vị thiền sư trả lời:
Bệ hạ hứa nếu y làm được thì sẽ tha tội chết. Vì lẽ sống chết của y, nên dù việc khó vô cùng mà y vẫn chăm chăm làm bằng được. Nay nếu bệ hạ cầu giải thoát cũng như người này cầu sống thì việc tu hành dù khó mấy cũng có thể vượt qua. Lan ngước nhìn tôi, lần đầu tiên tôi nhận ra trong hai cái giếng êm như nhung của mắt cô bé những tia sáng ương ngạnh lạ lùng. Em hiểu rồi. Anh xem tu hành là chuyện sinh tử của anh. Vậy nếu em lại xem anh là chuyện sinh tử của em thì sao? Anh và em, ai đi trọn đường, ai bỏ cuộc? Tôi bảo: Em nói gì thế? Chuyện sống chết mà nghe cứ như là trò chơi sấp ngửa của trẻ con. Lan cười… Bàn tay nhỏ nắm lấy tay tôi, ngón thon vuôn vuốt như cánh hoa ngậm sữa. Vẻ đẹp này có phải phù du? Vẻ đẹp này là sắc hay không? Chỉ thấy ngợp vì trăng. Trăng sáng quá. Thôi, về đi em. Tôi đạp xe, trước mặt tôi chập chờn lấp loá những con đường. Những mê lộ giữa đạo và đời, giữa ma và Phật… Việc lộn xộn ở quán ốc chẳng mấy ngày đã đồn đến chùa. Cô tôi biết, tốc lên ngay. Tôi bảo: Cô đừng lo. Chẳng có chuyện gì đâu. Không có lửa làm sao có khói. Ăn ốc, đánh lộn, dành gái. Thế còn gì là tu hành? Tau mà gặp con ma nữ đó, tau tước từ dưới tước lên. Tôi ngẩn người một lúc rồi hiểu ra, không nín được cười. Cô bực tức: Cháu tưởng chuyện gì cũng cười là xong sao? Quả là chuyện không thể cười mà xong. Mấy hôm sau, gia đình Lan mời tôi về. Con ma nữ đã uống hai mươi viên Sedusen, may sao nhà biết được, chở đi cấp cứu. Mẹ Lan chắp tay lạy tôi như lạy Bồ Tát: Bác biết tính con Lan lắm, từ nhỏ nó đã nói là làm, đã làm là làm tới cùng. Sợ e cứu thoát lần này, nó lại tự sát lần nữa. Con cứu nó cho bác đi con. Tôi cuống quýt: Bác bảo con làm sao được? Con cứ giả vờ ừ đi, bây giờ nó mới lớn, tính còn ngông cuồng, vài ba năm nữa chững chạc rồi tự nhiên nó hiểu ra. Ông chủ tịch hội hoa cảnh mắt đỏ au, nhìn tôi chờ đợi một lúc rồi bảo vợ: Nói như bà cũng khó. Chú Ninh đây tướng mạo khôi ngô, trước sau rồi sẽ có phước được che lọng vàng. Lẽ nào vì con mình mà để người ta mang tai mang tiếng. Tôi thở dài: Cháu đi tu không phải là mong lọng vàng che đầu. Chỉ vì nguyện giữ thân trong sạch để tụng cho mẹ cháu một nghìn lần kinh Thuỷ Sám. Nhớ tới mẹ, tôi bất giác đau đớn trong lòng, đứng dậy đi… Tôi về chùa, từ ấy không đi đâu. Thầy bảo: Sao con bỏ học? Tôi nói:
Suối ở xa, con muốn ra triền núi đào giếng. Tôi tự đày mình trong những nhát cuốc trên sỏi đá, đêm về tụng kinh, vẫn đôi khi chợt nghe tiếng mình khắc khoải. Có lúc nửa đêm chợt tỉnh, thấy thầy ngồi bên giường, lâm râm niệm chú. Tôi hốt hoảng vùng dậy: Bạch thầy. Thầy tôi bảo: Con giật mình, nói mê luôn, hất tung cả chăn. Tôi nói: Con tỉnh rồi. Rước thầy đi nghỉ, con xin ra bệ Phật niệm Cầu An. Thầy lặng lẽ một lúc rồi bảo tôi: Tâm không an, có cầu cũng vô ích. Tôi gật đầu thú nhận. Bao nhiêu đêm, cứ chợp mắt là thấy Lan hiện ra, mảnh dẻ, thanh thoát, đầu đội chiếc mâm vàng sóng sánh nước đi thẳng đến bờ vực. Tôi nghe tiếng thét của nàng vang động cả giấc mơ, nàng nhào xuống rơi thẳng vào không gian mênh mông như chiếc lá lìa cành trước gió. Thầy ơi, nếu vào Niết bàn mà phải đạp lên một chiếc lá, Phật có làm không? Xin thầy cho con hay, trời đất nặng hơn hay chiếc lá nặng hơn? Thầy nhìn vào mắt tôi: Chỉ có con tự trả lời được thôi. Ngày mai con hãy về, cứ nhìn thẳng vào nghiệp duyên mà tự quyết định lòng mình. Tôi lắc đầu: Thầy quên sao? Con đã thề khi nào đào xong giếng mới xuống núi. Ra xuân, đường lên núi khô ráo. Hai tay tôi ướt bùn đỏ, những giọt nước đầu tiên đã ứa ra từ lòng đất sâu. Tôi chạy về chùa, định vào trình thầy nhưng người đang làm lễ. Có người thí chủ dâng hương trong bệ Phật, mùi trầm mới thơm thơm trong không gian. Đang dội nước rửa tay, tôi nghe có người bước đến: Chú Ninh! Tôi ngẩng lên. Mẹ của Lan. Bác lên chùa cầu cho em đi bình an… Bà đưa cho tôi một cái túi nhỏ, rồi vừa quay đi vừa đưa khăn lau mắt. Những dòng chữ trong thư, mảnh mai và run run như những cánh lan: Bốn trăm ngày chờ anh ở quán Tím, cuối cùng em cũng hiểu ra là mình thua cuộc. Đã đi mà chẳng tới, lẽ ra thì phải chết. Nhưng em chết thì anh làm sao yên lòng đi trọn con đường tu. Vì vậy, em đã quyết định lấy chồng xa xứ. Trong cái túi này là cây hoàng lan con, em nguyện tìm cho anh bằng được rồi mới ra đi. Em vẫn nhớ lời anh nói, một đời anh chỉ thích hoàng lan… Người ta cứ bảo em khôn, lấy ông Việt kiều đi Tây đi Mỹ cho sướng chứ theo chi chú tiểu trọc đầu. Nhưng đi Tây đi Mỹ không phải là chí nguyện của em. Lấy một người mình không thương, đến một nơi xa lạ với em còn khổ hơn là chết. Xin anh hãy tụng cho em một lần kinh cầu siêu thoát, một lần thôi… Bất giác, tôi oà khóc. Nước mắt theo nhau lăn trên má tôi như ép cho hết những dòng tục luỵ cuối cùng. Cứ khóc đi con – Thầy vỗ về khi thấy tôi luống cuống che mặt – Thầy chưa nghe nói gỗ đá thành Phật bao giờ. Tôi nức nở: Bạch thầy, thầy có cho con trồng cây Hoàng Lan không? Thầy bảo: Cỏ cây vô tội, sao mình không thể bao dung? Rồi một tay dắt tôi, một tay cầm túi cây đến bên góc vườn, thầy tự mình trồng xuống. Tôi tưới cây bằng nước giếng chùa. Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm khác, nở hoa vàng mong manh. Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian. Tôi cầm lòng thôi thương, thôi nhớ.

Trần Thùy Mai

June 19, 2013 Posted by | * Truyện, * Uncategorized | Leave a Comment

Chuyện xưa

Chuyện xưa
 
Buổi chiều hết giờ làm tôi vội vàng ra xe. Lòng nhẹ nhàng thanh thản nghĩ đến buổi cơm chiều ở sau nhà, gió hiu hiu hát ngồi ăn cơm và nhìn công trình của mình cuối tuần qua trên  mảnh vườn nhỏ. Bỗng tôi nghe ai gọi tên mình thật to từ phía sau, giật thót người sao có ai gọi tên cúng cơm của mình một cách gấp rút như vậy! Tiếp theo đó là tiếng chân bước vội vàng đến. Tôi lo sợ quay lại, một người đàn ông bước đến gần:
- Xin lỗi, hy vọng là tôi không làm cô giật mình.
Tôi chưa biết phải nói gì khi nhận ra anh ta là một người trong phái đoàn đến thanh tra sở tôi sáng nay. Anh ta giới thiệu tên mình và nói tiếp:
- Sáng nay khi người ta giới thiệu tên cô khi thuyết trình… Tôi muốn hỏi thăm… Cô có phải con gái của bác… năm 67 hay 68 có làm việc ở Đà Lạt không?
Tôi lắng nghe câu hỏi thật dài… Ở cái lứa tuổi năm mươi mấy (cái xuân xanh!) già thì chưa chịu già mà trẻ thì không còn trẻ nên có ai gọi là cô thay vì “bà” làm tôi bỗng dễ dãi:
- Đúng… tôi…
- Trời may quá… Anh ta reo lên. Tôi cứ sợ không phải?
Đến phiên tôi hỏi:
- Mà sao… Anh lại biết ba tôi?
Anh ta kể lể cho tôi nghe, ba anh ta là bác… làm việc chung với ba tôi ở Đà Lạt lúc đó và cả hai gia đình ở chung một cư xá… Anh hỏi còn nhớ hè năm đó (lúc đó ba tôi làm việc ở Đà Lạt và gia đình ở Nha Trang chỉ có hè mới được lên vài tháng ở gần ba tôi và sau đó về đi học lại) chúng tôi thường kéo cả đám đi lòng vòng chơi hàng ngày do anh ta cầm đầu vì lớn nhất trong đám.
Tôi ngờ ngợ:
- Dạ tôi nhớ… Lâu quá không gặp tôi nhìn anh không ra.
Anh ta cười, nói (nịnh) một câu rất là tự nhiên:
- Cô thì không khác mấy… Thoạt thấy cô tôi cứ nghĩ không lẽ… ai đâu mà trẻ hoài vậy!
Tôi phì cười, tự nhiên lại nói đùa:
- Như vậy là anh nói tôi trẻ như hồi còn mười hai, mười ba tuổi…
- Tôi nói thật nhưng nghe thì giống xạo hở…
Tôi đâm ra ái ngại, nói cái gì đây khi người ta nhận ra mình và thăm hỏi:
- Cám ơn anh… Hai bác khỏe chứ?
- À… thì khỏe cho người già! Hai bác khỏe chứ?
Dạ khỏe, tôi đáp. Chắc thấy đã chiều tối nên anh ta chào từ giã. Tôi vâng dạ và lịch sự nói:
- Cho tôi kính lời thăm hai bác.
 
Tôi ra về mà không khỏi nhớ lại những ngày thơ ấu ở Đà Lạt, mấy năm đó ba tôi làm việc ở xứ sương mù này, cứ hè đến thì chúng tôi lai được lên thăm ba và ở đó vài tháng. Hàng ngày thì bọn con nít chúng tôi, đều là con nhà binh làm chung đơn vị nên ba mẹ tin tưởng và cho chúng tôi tụ tập rong chơi. Những ngày hè đó, đám con trai nghịch ngơm thường dẫn đầu và thích mạo hiểm, mấy thằng em trai của tôi nhiệt liệt tham gia, nên tôi cũng phải lò tò đi theo. Những hôm chúng tôi đi vào những vườn đào hay mận bỏ trống, đám con trai leo trèo hái trái cây trong khi tôi thơ thẩn hái hoa dại, hoặc đứng dưới gốc cây chờ người ta hái. Tôi nhớ chúng nó hay bảo:
- Ăn không… Chụp nè!
Mà tôi thì chả bao giờ chụp được cứ né mỗi khi chúng ném xuống, xong thì đi lượm cho… chắc ăn! bị ghẹo tôi cũng tỉnh bơ vì bận thơ thẩn kiếm những cánh hoa đẹp cho riêng mình. Những kỷ niệm rong chơi ở đó thật là đẹp và êm đềm cùng với những người bạn nhỏ.
Riêng anh ta thì nhớ rất nhiều chuyện thú vị, có lẽ vì ở đó lâu hơn tôi. Khi anh anh ta kể đến những hôm cả đám đi vào những căn nhà nghỉ mát thật lớn, chủ nhà thường chỉ ở đó một vài tháng trong năm, thời gian còn lại là trống. Chúng tôi tha hồ chạy nhảy vui đùa trong những khoảng sân rộng đầy hoa đẹp, cũng như bày ra những trò chơi rượt bắt, trốn tìm mà tôi thường thường không muốn tham gia vì sợ chạy té… sợ dơ quần áo!
Kể đến đó thì anh ta lại cười một cách thích thú và tôi thì thấy hơi quê:
- Anh có phịa ra thêm không vậy? Tôi đâu có nhớ!
Anh ta lắc đầu nhưng tôi nghĩ chắc phải có phịa ra chút ít để chọc quê tôi. Ngày xưa cũng vậy mà, nên hễ thấy mặt là tôi né, chỉ có khi nào đông người tôi mới dám đi chơi chung.
Tôi làm thinh vì nể anh ta bây giờ là thanh tra của mình, thấy tôi không nói gì anh ta bỗng nói:
- Hồi đó chắc cô ghét tôi lắm phải không?
Hồi đó, tôi nghĩ thầm, bộ tưởng bây giờ… Nhưng tôi cũng nhìn lơ đi chỗ khác và nói nho nhỏ:
- Tôi không nhớ gì hết!
- Vậy thì đỡ khổ cho tôi, cám ơn cô!
Rồi anh ta bước đi. Tuần lễ đó chúng tôi làm việc bù đầu, khi nào cũng nghiêm trang vì “nhà có khách”! Riêng anh ta thì thân thiện, thường ghé qua chỗ tôi làm nhắc lại chuyện xưa, chuyện gì anh ta kể cũng sôi nổi và buồn cười… Trí nhớ của tôi thì cho tôi về những ngày êm đềm hơn.
 
Thứ sáu tuần đó, như thường lệ mọi người rủ nhau đi ăn trưa. Tôi đi làm trễ hơn nên thường không đi ăn chung với họ. Hôm đó tôi vừa bước vào sở thì lại thấy anh ta thò đầu vào hối hả:
- Lát nữa cô cũng đi ăn trưa chung với mọi người chứ!
- Chắc là không! Tôi mới vào sở mà, 3 giờ chiều mới đi ăn trưa!
- Hôm nay đi sớm một hôm cho vui đi… Thứ hai tôi về Sacramento lại, cô không còn thấy cái bản mặt khó ưa của tôi nữa.
Tôi bật cười, anh ta nói như trách:
- Làm gì ma cô mừng ra mặt vậy!
Không hiểu sao tôi bất thình lình lanh lợi một cách đáng khen:
- À.. thì vì không còn bị thanh tra nữa! vừa lúc đó xếp của tôi đi ngang cũng nhắc nhở:
- Thu xếp đi ăn trưa nghe…
Anh ta nhìn tôi đắc ý rồi tíu tít nói chuyện với bà xếp.
Trưa đó mọi người kéo nhau ra nhà hàng Việt Nam, tôi bận một vài công việc nên khi đến nơi thì mọi người đã an tọa. Đang nhìn quanh thì anh ta niềm nở đứng dậy mời:
- Cô… Ngồi đây!
Tôi vâng dạ ngồi xuống, mọi người quảng cáo với anh ta về những món ngon của nhà hàng này kèm theo lời khen nức nở. Anh ta quay sang hỏi tôi:
- Ngon thật không cô?
- Không… Tôi thành thật đáp. Người Mỹ khen thì anh biết rồi. Tôi thường chỉ đến đây để mua bánh mì đem đi…
- Vậy hả… Nè, cô còn nhớ bánh mì gà ở Chi Lăng không?
- Nhớ chứ, vừa nóng vừa dòn ngon…
Anh ta gật gù xong thì thắc mắc:
- Vậy mà sao cô lại không nhớ mấy lần bị nhát ma trong sân nhà hay là lần tôi làm cô té xe đạp…
Mấy chuyện này anh ta đã hỏi tới hỏi lui, mà tôi lại không hề nhớ!
Thấy anh ta cứ thắc mắc tôi nói:
- Chắc tại mấy người giả ma không đáng sợ lắm nên tôi không nhớ!
Anh ta cứ nhất quyết:
- Trời ơi, tôi nhớ mặt mày cô xanh lè, hét lên khủng khiếp rồi chạy vào nhà!
- Hên cho anh là tôi không nhớ mấy chuyện đó!
- Riêng tôi không làm sao quên được gương mặt sợ hãi của cô. Cứ ân hận mình đã ỷ lớn ăn hiếp trẻ nhỏ!
Tôi nghĩ thầm nhớ làm gì chuyện ghê rợn vậy! Định nói một câu trêu anh ta nhưng lại thôi. Ăn bữa trưa xong, chuẩn bị về sở thì anh ta quay qua nói với xếp tôi:
- Tôi sẽ quá giang cô này về bà nghe!
Hơi bực mình giọng kẻ cả của anh ta:
- Nhỡ tôi bận việc gì thì sao?
- Thì tôi đi theo cô… cả ngày cũng được! Đi với người đẹp mà!
Tôi buột miệng:
- Tán tỉnh tôi đó hở?
Nói vừa xong tôi đã thấy mình ngu… ơi là ngu. Lém lĩnh như người này, buồn buồn trả lời lại mà mình đỡ không kịp thì quê lắm! May quá, anh ta chỉ nói:
- Ơ… tôi sợ cô đuổi xuống khỏi xe lắm!
Tôi thở phào, chưa kịp mừng thì anh ta chậm rãi hỏi:
- Mà… tán tỉnh thì sao…
Tôi kêu lên:
- Con nhà binh không tán tỉnh lẫn nhau!
Xong tôi cười thích chí, anh ta cũng cười theo:
- Cho cô thắng lần này đó! Để bù lại hồi xưa tôi thường ăn hiếp cô!
Anh ta trầm ngâm nhìn ra phía trước:
- Cô thì xưa giờ vẫn vậy… bị ghẹo xong cũng không giận hờn (phải tôi không?) Nên tôi cứ nhớ hoài.
Nghe nói thì tôi cũng thấy tội nghiệp (có mắc bẫy không đây) nên trả lời:
- Chuyện con nít mà, tôi có nhớ gì đâu!
Anh ta cười thở phào như vừa trút cái gánh nặng:
- … Bây giờ mà cân chắc nhẹ đi cũng năm bảy ký!
Tôi trêu:
- Chuyến đi thanh tra này của anh thành công quá hở?
- Ngoài tưởng tượng.
 
Chúng tôi lại nhắc đến chuyện xưa, nhắc đến những người bạn nhỏ của ngày đó, không biết bây giờ đi về đâu. Chúng tôi những đứa con nhà binh, theo ba mình đi khắp nẻo đường, rày đây mai đó. Những đứa trẻ lớn lên trong chinh chiến, những tình bạn ngắn ngủi, bao nhiêu là kỷ niệm thơ ấu, mỗi người trong chúng tôi sẽ nhớ về ngày cũ một cách khác nhau. Có gặp lại thì chắc thì chắc cũng trêu ghẹo nhau (trong vòng lễ giáo) như chúng tôi vì được rèn luyện từ nhỏ trong quân đội, bên cạnh kỷ luật thì luôn có chút gì đó tinh nghịch, lém lĩnh, một cái gì đó rất là… (con) nhà binh!
 
KimChi

June 15, 2013 Posted by | * K i m C h i, * Truyện | 5 Comments

em về

em về

để lại một chút Sài Gòn xưa bên ghế phải
Sài Gòn nay đầu con dốc đợi ai
như ai đợi em của thời con gái
lúc đó anh đi rồi theo chinh chiến nay mai
những núi đồi vô danh chợt thành tên gọi
trên báo một ngày như tên bè bạn rủi may
Mời đọc tiếp…

June 15, 2013 Posted by | * Góc Nhỏ An Phú Vang, * nguyễn nam an, * Thơ | Leave a Comment

bằng hữu

bằng hữu

hai đứa là hai đứa bạn
và rồi là hai anh em
hơn ba mươi năm còn mới
trò chuyện lúc nhậu bên thềm
uống là để còn nhớ thêm
những ngày đang đi học. đói
uống là vì còn muốn nói
không phải uống để rồi quên ./.

nguyễn nam an

June 12, 2013 Posted by | * Góc Nhỏ An Phú Vang, * nguyễn nam an, * Thơ | Leave a Comment

gặp nhau

 gặp nhau
[Tặng các bạn nhân ngày họp mặt 2013-Cali. ]

gặp nhau ̣đây đùa vui cười tít mắt
ba mươi, bốn mươi năm vẫn là tình thân tuổi học trò
quanh đây nghe chừng mùi hạnh phúc
tỏa lan
rồi chia tay ôm chầm khóc
đời có đến có đi lẻ thường
vẫn buồn./.

Sông Chuyên

June 12, 2013 Posted by | * Sông Chuyên, * Thơ | Leave a Comment

đi đâu mây phương ấy

đi đâu mây phương ấy
Hummingbird
đã có một ngày [ cho hãng nghỉ ]

là ngày ra biển lạng quạng anh
nhưng vui như chim đang vỗ cánh
hummingbird loài chim hiền lành
em ở nhà qua chưa giờ thấy
nơi đây biển xanh ngày chim bay
chim bay, chim bay, ngày đứng đấy
về chiều nay? khoang về chiều nay
đã có một ngày tung hê đấy
là ngày bỏ hết để theo mây
đi đâu hoài vậy mây phương ấy
Laguna Hills
hay Torrance.
đây ./.

nguyễn nam an

June 11, 2013 Posted by | * Góc Nhỏ An Phú Vang, * nguyễn nam an, * Thơ | Leave a Comment

tr. c. v.

tr. c. v.

mới nghe tưởng tài tử kiếm hiệp
dầu lúc đó chưa là cô nương
bây giờ bốn phương và tám hướng
mây bay bay theo đời vô thường
nhưng tay tung một chiêu anh mượn
làm bài thơ chiều uống lon bia
bác sĩ bảo rượu dô không tốt
bia được mà, có thể uống đến khuya
cô nương đưa dốc này lên núi
anh, đường về, cảnh sát, check point
lên xe tỉnh như là khi chưa uống
rề rề khuya đi qua phố qua phường
mai em về nơi xa xôi cố quận
nhớ bàn tay chiều biển mượn qưê hương
hai đứa đứng ngày nơi đây trông ngóng
đời vô thường biết đó vẫn nghe buồn

cô nương, đây không là kiếm hiệp
khuya rồi ngủ lấy sức về quê… ./.

dương nổ

June 11, 2013 Posted by | * dương nổ, * Thơ | Leave a Comment

nghỉ một ngày thứ hai

nghỉ một ngày thứ hai

một ngày anh đã lái xe
ngó xanh dưới biển ngó nhà đồi cao
về đây anh ngó gì nào
ngón tay lộn xộn ngoéo hoài. chưa cho ./.

bùi ân

June 10, 2013 Posted by | * Bùi Ân, * Thơ | Leave a Comment

a world without love *

a world without love *

bề gì người anh cũng đứng đầu gió
các em tản ra lần hồi trú mưa
cơn dông ban chiều xô ngặt
đất phì phò tiếng va chạm bong bóng nước
và những con tàu giấy
rã bèn chú mục cồn lau
xa Mời đọc tiếp…

June 10, 2013 Posted by | * Hoàng Xuân Sơn, * Thơ | Leave a Comment

Những ngày đầu mới ra đơn vị ở Kampuchia

Những ngày đầu mới ra đơn vị ở Kampuchia

bietdongquantrenquoclo1taivungmovetcambot-22111971Những ngày cuối năm 1971, nhớ hôm ra trường chọn đơn vị, khi tới phiên tôi, tôi đứng lên và hô lớn: Liên đoàn 5 BĐQ, đàn anh Y sĩ đại tá Nguyễn Minh Châu đã cười nhẹ và hỏi tôi (sau nầy tôi nghĩ chắc anh Châu có ý can gián tôi đừng ra chỗ nguy hiểm?): Em có biết LĐ5BĐQ đang ở đâu không? Tôi trả lời: Dạ, không biết. Anh nói: LĐ5BĐQ hiện đang hành quân bên Kampuchia đó, em có còn quyết định ra LĐ5 không? Tôi trả lời: Dạ, hể đơn vị ở đâu cũng vậy thôi. Các bạn cùng khóa tôi cười ồn ào: Thằng nầy nó muốn xuất ngoại khỏi giấy thông hành đó anh…

Ngay hôm sau, 3 đứa trong khóa chúng tôi ra Biệt động quân, Lê văn Vinh (LĐ7) Phạm đăng Hương (LĐ4) và tôi, đã hẹn nhau tới Khu Dân sinh để tìm mua mỗi đứa một bộ quân phục BĐQ đầy đủ trừ béret nâu phải tới tiệm Phước Thành, chuyên bán quân phục để mua bằng được cái mũ béret “đúc” của  “Tây” đàng hoàng cho ngon lành để còn đi trình diện Bộ Chỉ huy BĐQ ở trại Đào Bá Phước. Hai bạn tôi thì sao tôi không biết, riêng tôi, việc ra đơn vị kể ra không có sợ mà chỉ có lo mà thôi. Mà cái lo nầy không phải là xa nhà lần đầu tiên để đi vào vùng lửa đạn mà là chỉ lo vì cái vụ thi clinique ra trường chưa hoàn tất!! Vì thế, ở trại Đào Bá Phước, tôi có xin phép là hể thi clinique xong là tôi sẽ ra trình diện đơn vị liền lập tức. Cái vụ thi clinique nầy cũng thiệt là vô duyên, kể ra học hành đàng hoàng, hể thi thì thi đâu có gì phải sợ, có điều tôi “nằm vùng” ở khu Sản Khoa Nguyễn văn Học suốt 2 năm chót nên ngoài Sản Khoa, 3 món kia Nội, Ngoại và Nhi tôi đều không cảm thấy vững bụng…

Mời đọc tiếp…

June 9, 2013 Posted by | * Nguyễn Ngọc Ẩn | Leave a Comment

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.