Q U Y Ê N B O O K – nna

Góc nhỏ của An và bằng hữu

Trước Khi Trời Sáng

Trước Khi Trời Sáng
[viết theo 90% trí nhớ, và 10% trí tưởng tượng]

 

Vài phút sau bốn giờ sáng, ống nghe máy PRC-25 của hắn rột rẹt tiếng của Lê Bê rất nhỏ: “hai không hai, năm lẻ bốn – hai không hai, năm lẻ bốn, nghe rõ sang sông”.  Thằng Dũng ngồi bật dậy, vặn máy vô tuyến qua băng tần bí mật, bóp ống nghe, và trả lời rõ rệt: “năm lẻ bốn, hai không hai.”
“Đưa Hồng Hà gặp 504” tiếng Lê Bê nhanh nhẹn.  Hồng Hà là danh hiệu truyền tin của Trần Huấn, trung sĩ nhất quyền trung đội trưởng trung đội 2, đại đội 92 nhảy dù.  504 (chín nút) là ám số của Tường Vi, người anh cả của đơn vị. Trần Huấn kéo nón poncho xuống khỏi đầu, nói khẽ bằng môi và hơi thở, “kêu tất cả dậy, chuẩn bị zulu”, trước khi với tay nhận ống nghe.
Thằng Dũng trườn lên miệng hầm chỉ huy trung đội, lăn người qua hố cá nhân của binh nhất Ninh. “Mày nói anh Quang đi khều mấy vọng gác về, ba chạc ba-lô gọn ghẽ, báo động tại chỗ chờ lệnh anh Huấn”, hắn nói thêm “chắc là đi tapi cú nữa” rồi bò về chỗ cũ.
Trên ngọn đồi vô danh, cách làng Như Lệ chưa đầy nửa cây số đường chim bay, nhìn ra hướng tây bắc là bờ sông Thạch Hãn, cả trung đội hai thức dậy trong yên lặng tuyệt đối của bóng đêm. Tháng mười một ở Quảng Trị, đất  trời lúc nào cũng se se lạnh và mưa lất phất. Tuy có mặc poncho nhưng người thằng Dũng vẫn ướt nhẹp nhất là từ đầu gối xuống chân. Gần hai tuần rồi chưa lần được cởi đôi giày bố.

*

Thằng Dũng mới qua mười bảy tuổi.  Con trai Huế, lớn lên trong Đà Nẵng. Lúc đầu năm, hắn còn lo gạo học bài thi đệ nhị lục cá nguyệt năm lớp 10 ở trường trung học Phan Chu Trinh. Có chút thì giờ nào thì hắn tập tành làm thơ và tán gái. Rồi đùng một cái là Mùa Hè Đỏ Lửa.  Và đùng đùng nhiều cái nữa thì cường độ chiến tranh lên quá mức chịu đựng, dân tản cư từ bên kia đèo Hải Vân tràn vô tị nạn chiến tranh trong thành phố. Ở trường học nào, trên sân chơi và trong lớp học, lều chõng của dân tị nạn bất chợt mọc lên như nấm. Thằng Dũng xếp sách vở lại đi theo bạn bè đi tham gia cứu trợ.  Dồn dập theo đó là chuyện đôn quân và tổng động viên. Lớp 10B5 của hắn gần 55 đứa học trò, có khoảng một chục tên giơ tay lên tình nguyện. Cuối tháng năm 1972, hắn âm thầm chọn đi lính Nhảy Dù.

*

Trong hầm chỉ huy trung đội, Trần Huấn áp ống nghe chặt vào tai nghe lệnh Tường Vi. “Hồng Hà thấy hạt đậu, cách ba xấp hướng mười giờ (ngọn đồi, khoảng cách 300 thước hướng tây tây bắc) không?  Có cái đinh nhỏ.  Lệnh Cửu Long (Tiểu Đoàn), mình phải nhổ trước khi trời sáng.  Đem con cái zulu, đến chân hạt đậu, trễ lắm là G+2, chờ lệnh tôi.”
“Năm trên năm (nhận rõ), 504.”  Trần Huấn nhận lệnh, can đảm như Kinh Kha trong giọng Huế chay.
Huấn, lúc đó mới hăm ba hăm bốn tuổi mà mà nhìn tra (già) hơn hầu hết trong trung đội. Đi lính từ trước Mậu Thân, Huấn đã qua những tháng ngày mút mùa Lệ Thủy ở Dakto, Hạ Lào, Hải Lăng, Quảng Trị nên đôi giày saut và cái nón bo đã thấm màu nắng gió.
Huấn mò trong túi ba-lô gói cà phê bột. Nấu nước sôi bằng cục C4 bằng đầu ngón tay. Cà phê đen có liền  trong hai phút. Huấn đốt điếu Capstan. Chợt nghĩ đến M, má hồng thơm mùi hương con gái Thành Nội Huế, và mơ có hai ngày phép.

*

Ờ đầu vòng đai trung đôi, Ninh kiểm soát lại giây ba chạc. Sáu trái lựu đạn và bốn băng đạn M16. Bi đông nước và hai khẩu flare. Khinh binh số một của trung đội, Ninh làm việc nhanh nhẹn gọn gàng. Ninh về trung đội 2 từ tháng tám, lúc đơn vị đụng nặng với tank T-54 Bắc Việt ở động Ông Đô.
Ninh con nhà Bắc di cư ở Hố Nai Biên Hòa. Đi lính có lương là gửi về cho mẹ cho em. Đêm nào trong hố cá nhân, nó cũng lập đi lập lại ước mơ đơn giản: “khi nào về hậu cứ, theo tớ về nhà ăn rựa mận.”

*

Hố cá nhân cạnh Ninh là Liệu. Người “xanh” nhất trong tổ khinh binh, cũng là người kinh nghiệm nhất vì Nhảy Dù là đơn vị thứ hai của hắn. Trước Mùa Hè Đỏ Lửa Liệu làm lính Sư Đoàn 3. Đơn vị tan hàng ở Quảng Trị, thay vì về trinh diện lại ở Quảng Nam. Liệu về quê ở Truồi cho đã, rồi đăng vô mũ đỏ. Liệu dáng cao roi, và khỏe nhất đám, ngoài ba lô ba chạc, hắn còn mang theo thùng đạn đại liên và một khẩu M72. Có thằng nào đó trong tổ khinh binh hỏi nữa đùa nữa thật “Ê Liệu, mày có vợ chưa mày?” Liệu trừng mắt “đừng hỏi nữa nghe chưa!”.

*

Kế đó là Luân. Thằng Luân là dân Sài Gòn chính gốc trong trung đội. Nhà ở Quận 4 (nổi tiếng có dân anh chị dữ dằn nhất) trong thành phố. Luân rành rỏi “xóm ở đường đó nổi tiếng xì ke; xóm ở đường kia có nhiều bò lạc.” Cũng con nhà nghèo lao động trong thời buổi đôn quân.  Luân hay nói “ghét nhất là mấy thằng lính kiểng trong xóm tao; sáng đi chiều về mà lúc nào cũng mặc rằn ri láng cóng.”
Luân cởi mở thân thiện với mọi người trong trung đội. Có gì dư thì lúc nào cũng chia ba xẻ bảy; lúc thiếu thì hắn cũng chẳng ngần ngại nhào vô chĩa đại.

*

Thằng ngớ nhất (và trẻ nhất) trong trung đội là Hồ.  Hồ ngớ. Nó người Bình Định Quy Nhơn.  Từ cách ăn mặc, đi đứng và nói năng ai cũng nói thằng này ngớ nga ngớ ngẩn không hiểu sao mà chẳng lọt về Gia Đình Bác Tám sau khi mãn khóa Nhảy Dù. Hồ thuộc trong tổ đại liên, lúc nào cũng đèo theo hai thùng đạn M60 nặng trịch. Trần Huấn thương thằng Hồ lắm. Đêm nào cũng chia cho nó ca gác nhất, sợ nó gác ca khuya lạng quạng quay mặt vô tuyến mà rỉa là thí mẹ.  Huấn cứ hay nói thằng này đáng ra cho nó miễn đi lính, ở nhà làm thợ nề thợ mộc thì đúng hơn.

*

Hố cá nhân cuối tuyến là của Quang, cánh tay phải của Trần Huấn. Quang, hạ sĩ nhất, coi tổ đại liên và thành phần trừ bị của trung đội. Quang cao long nhong gần thước tám, và rất là ít nói.  Quang quê ở Vùng 4, miệt sông nước Cửu Long. Quang và Huấn thân nhau từ lúc Hạ Lào, cả hai cùng vào ra bệnh viện Đổ Vinh hai ba chuyến.

*

Trong khi trung đội chuẩn bị zulu ra khỏi tuyến phòng thủ, Huấn mở bản đồ hành quân ra xem lại khoảng cách và cao độ của Tango, điểm tapi của 202. Từ chân đồi lên tới đỉnh, Tango có dốc cao hơn 20 độ.  Sau chóp đồi của Tango là một lưng ngựa nhìn qua một hạt đậu khác. Huấn suy nghĩ, kiểu này chắc phải chia 202 thành hai nhánh. Huấn dẫn toán khinh binh làm mũi tên chĩa thẳng vào Tango; Quang mang phần còn lại và tổ đại liên bọc phía bên kia triền lưng ngựa.
Huấn nói với thằng mang máy “Dũng, mày gọi Quang lại cho tao nói chuyện.”

*

Trên đỉnh Tango, trong hố chiến đấu cá nhân hình chữ L, thằng bộ đội mang tên Trần Sĩ Hùng, ngồi gác một mình.  Nó lạnh run, chiếc áo mưa rách mấy lỗ, che không đủ ấm. Phiên gác của nó từ nưa khuya cho đến 4 giờ sáng. Gật gù nhìn bóng tối mênh mông phía trước, thằng bộ đội non choẹt tính thầm: nó vào Nam đã gần hai tháng. Lời nhắc nhở của bu nó còn rỏ ràng trong trí nhớ “mày phải khôn để sống mà về nghe con.” Nó cứ nhớ mãi ánh mắt nhìn theo của hai đứa em còn non dại.
Đi từ miền bắc vào nam,Trần Sĩ Hùng chẳng mang gì theo ngoài một lá thư con nhỏ nhà hàng xóm, tóc cột đuôi gà, màu da trắng và thơm như mùi hoa bưởi. Lá thư đem cho thằng bộ đội chút ấm lòng trong canh gác đầu đông.

Tường Vi đốt thêm điếu thuốc. Người đại đội trưởng Nhảy Dù ngồi chồm hổm, hai đầu gối gần chạm hai tai, nhìn chăm chăm tấm bản đồ hành quân. Sau Tango lại tới Delta (đồi đất đỏ sát bờ sông Thạch Hãn), lúc này 92 của Tường Vi đi ủi chốt không ngừng mặc dù chiến trường Quảng Trị lúc này đã bắt đầu giảm bớt đi cường độ đạn bom tàn khốc.
Tường Vi nói với Lê Bê “kêu tụi nó cho tao chút cà phê” trước khi ngóc đầu ra khỏi hầm chỉ huy nhìn về hướng trời tây-tây bắc. Còn quá tối, sương đêm hay mưa bụi làm không gian ẩm ướt quá chừng. Tường Vi nhẩm nghĩ “chắc lúc G+2 trời cũng bắt đầu hừng sáng.”

*

Trần Huấn ra dấu cho thằng Dũng tắt máy PRC-25, và ngoắt tay ra lệnh cho trung đội zulu.
Trung đội hai âm thầm rời vị trí.  Đi đầu là thằng Liệu và tổ khinh binh, kế đến là Trần Huấn và thằng máy, sau cùng là Quang và tổ đại liên.  Tất cả di chuyển trong một trăm phần trăm im lặng, nhắm về hướng Tango.

Thằng Dũng nghe nhịp tim của nó đập nhanh hơn, và miệng môi khô nước miếng. Mặc dù đã hết sức cẩn thận, nó vẫn nghe tiếng chân của nó đạp lên cỏ cây xào xạc.

*

Binh nhì Nguyễn Liệu lẹ làng như sóc rừng và thính tai như cú đêm, loắt thoắt chập chờn.  Thỉnh thoảng nó đưa tay trái lên ra dấu cho trung đội ngừng lại, rồi áp mặt xuống đất nghe ngóng.
Khi sắp đến Tango, Trần Huấn giang hai tay dài cho trung đội làm hàng ngang bám lấy chân đồi.
Dũng mang máy nhẹ nhàng đưa combiné PRC-25 cho Trần Huấn. Huấn bóp nhẹ hai lần.  Giọng Lê Bê rất nhỏ “202 1004 (trung đội 2 đến điểm hẹn)?” Huấn bóp combiné một lần, trả lời đúng vậy.
Tiếng Tường Vi ở bên kia đầu ống nói “Phương Bình (Pháo Binh) 1001 (sẵn sàng). 202 1009 3001 (trung đội 2 tấn công khi nhận định rõ mục tiêu)”. Huấn bóp combiné một lần nữa, 5 trên 5, 504 (nhận rõ đích thân), rồi tắt máy.

*

Trên đỉnh Tango, thằng tổ trường bộ đội, ngóc đầu ra khỏi hầm chữ A, quan sát tuyến phòng thủ. Hắn định bò đi vòng quanh đi kiểm soát từng vọng gác nhưng không hiểu sao hắn lại thôi, rồi chui xuống quấn khăn quàng cổ ngủ tiếp.
Bộ đội Trần Sĩ Hùng cũng gật gù trong canh gác phía ngoài phòng tuyến. Nhìn phương đông loe loáng sáng, hắn nghĩ thầm, sắp hết canh gác đêm dài, chắc sắp qua được một thoáng bình yên.

*

Trần Huấn vịn vai Quang nói rất nhỏ “cho trung đội gom ba-lô vào một chỗ, cho ba đứa giữ, còn bao nhiêu, mang đi tấp.”
Trung đội chia làm ba cánh, theo thế chân vạc, vừa bò vừa quỳ, leo lên sườn đồi. Khi tổ khinh binh của Liệu và Ninh còn cách Tango mười lăm thước thì Liệu ra dấu là trên đồi Tango có chốt bộ đội.
Theo kế hoạch của Trần Huấn, tổ khinh binh Liệu Ninh là nỗ lực chính, bên phải là tổ chỉ huy trung đội, tổ đại liên và thành phần còn lại theo Quang thủ sườn cực phải.

*

Tường Vi và người sĩ quan tiền sát viên đại đội đứng thăng người nhìn về hướng Tango. Trời sắp sáng. Mưa bụi vẫn còn bay. Cạnh đó Lê Bê quỳ thẳng người, áp combiné PRC-25 vào tai trái.
Bỗng nhiên từ hướng Tango có mấy tiếng nổ bụp bụp bùm bùm của lựu đan tung vào hầm chiến đấu và phòng tuyến. Tiếp theo đó là tiếng của tràng M16 và AK lẫn lộn. Và thêm nữa là ánh lửa xanh lè của B40 bật lên trong bóng tối.
Tường Vi nói với tiền sát viên “anh coi chổ nào có tiếng depart của tụi nó thì kêu gà cồ mình gõ vào đó cho tôi.” Người tiền sát pháo binh nhanh nhẹn “xong rồi đich thân.”

*

Trước đó ba mươi giây, trên sườn đồi Tango. Trần Huấn ra dấu cho trung đội bắt đầu tấp chốt. Năm cánh tay vung lên thẩy M26 vào hầm bộ đội.  Huấn hô lớn “xung phong, xung phong” và siết cò khẩu M16.
Thằng Dũng mang PRC-25 lum khum chạy theo người trung đội trưởng, cố giữ khoảng cách cho đừng bị dính chùm. Thoáng chốc, nó nghe rõ tiếng thằng Liệu la lớn “đ.m. giơ tay lên.”

*

Khi nghe mấy tiếng ầm ầm lựu đạn nêm vào phòng tuyến, Trần Sĩ Hùng vùng dậy mắt mở bừng ra.  Chưa kịp chụp lấy khẩu AK-47, thì có mũi súng M16 dí vào trán hắn.  Một tên ngụy áo rằn ri giọng miền trung đặc sệt “đ.m. giơ tay lên.” Thằng bộ đội non choẹt, chết điếng, sợ quá đưa hai tay thẳng lên trời.
Bên trong phòng tuyến Tango, thằng bộ đội thủ trưởng ngồi bật dậy khi nghe tiếng chân người ngoài phòng tuyến. Hai tiếng nổ lớn dữ dội. Người bộ đội nằm xuống, ấp mặt trong lòng đất đỏ núi đồi Quảng Trị.

*

Trần Huấn xách cổ Trần Sĩ Hùng giao cho thằng Dũng “coi chừng nó, nó lạng quạng bắn bỏ cho tao.” Huấn lên máy PRC-25 “504 202.  202 3001 (trung đội đang thanh toán mục tiêu).” Nói xong Huấn dzọt ra ngoài.
Chiến trường kết thúc sau chưa đầy năm phút. Một nửa tổ bộ đội tháo bỏ chạy về hướng bờ sông Thạch Hãn. Hai đầu hàng, và ba sinh bắc tử nam.

*

Khi trời sáng hẳn thì thằng Dũng mới nhìn thấy rõ mặt Trần Sĩ Hùng. Khuôn mặt trẻ tái mét vì thiếu ánh nắng. “Mẹ, nó còn non hơn cả mình nhiều. Thằng Dũng nhủ thầm “thằng này chắc mới 15, 16.” Người tù binh bắc việt ngồi cạnh người lính nhảy dù, không bịt mắt, không trói chân tay, run run và muốn hỏi đây là giấc mơ hay là sự thật.
Sau một lúc yên lặng, thằng bộ đội nói nhỏ “lạnh quá anh ơi! anh có thuốc lá cho em xin một điếu.” Thằng Dũng giả bộ làm ngơ mà nó cũng thấy lạnh và cần một điếu thuốc thật. Rút trong túi áo gói thuốc lá gói trong bao nylon gạo sấy, móc ra một điếu bật lửa hút. Thằng bộ đội nhìn thằng lính nhảy dù có vẻ hiền từ trước mặt, rồi bỗng nói “Thôi anh lấy súng của em rồi anh tha cho em đi đi nhé.  Em chỉ cần bơi qua sông Ba Lòng là em về đến nhà em. Em có người yêu da trắng và thơm như hoa bưởi.”
Thấy vẻ ngây thơ của thằng bộ đội, thằng Dũng chợt có lòng thương hại. Đưa điếu thuốc đang hút dở cho thằng tù binh, nó nói “thôi đừng lộn xộn nghe mày.” Trần Sĩ Hùng hút lia lịa, điếu thuốc cháy tận đầu ngón tay. Thằng bộ đội nói với thằng lính dù “thuốc lá thơm quá anh, mình hút điếu nữa đi anh.”

*

Tango yên lặng khi trời sáng hẳn. Quang chạy xuống chân đồi hướng dẫn tổ yểm trợ mang ba-lô trung đội lên vị trí mới của trung đội. Trần Huấn lên máy nói với Tường Vi “Tango xong rồi 504. 7001 (hoàn toàn vô sự). Có hai khách không mời.” Tường Vi có vẻ vui mừng “ngon quá 202! Có con cái của Châu Bá Thông (Thường Vụ Châu) hướng về anh đó.”
Khi toán tiếp tế của đại đội đến Tango thì Trần Sĩ Hùng còn năn nỉ với Trần Huấn “các anh tha cho em về, kẻo bu em mong em lắm.”  Trần Huấn nhìn thằng bộ đội tội nghiệp “còn sống là còn về đó mày ơi.”

*

Trần Sĩ Hùng bình an rời Tango. Không ai trói tay chân nó. Nhìn màu áo khaki Nam Định của nó lẫn trong màu áo hoa dù đi xa dần trong tầm mắt, thằng Dũng nói thầm trong bụng “thằng bộ đội ơi, tao chúc mày may mắn.”

Trung Hậu
12/2019

.

January 3, 2020 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

cứ tì tì rượu tôi vô

cứ tì tì rượu tôi vô

cứ tì tì rượu tôi vô
tỉnh bơ như thuở tình cờ một ly
thấy Trường Sơn núi xanh rì
thấy chinh chiến nộ khổ đi khổ về

uống rồi chiều chốt trên kia
trèo lên thí mẹ bốn bề tịch liêu
trèo lên sống chết tiêu điều
trèo lên muốn hụt hơi điều muốn la

bạn bè lính khổ thân xa
còn mấy đứa tọa độ là… lạc nay
thành tì tì như ngày này
mình tao uống để thấy mây đầy hồn ./.

Nguyễn Nam An

December 11, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

lạc chợ trôi sông

lạc chợ trôi sông

những ngày lạc chợ trôi sông
nửa đêm thức giấc ta nằm ngó ta
cõi trong chữ nghĩa ta bà
đùa chi để khổ phận ta và người ./.

nguyễn nam an

June 18, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

buồn buồn

buồn buồn

buồn buồn ngồi cá độ chơi
cá rồi chới với như hồi em la
tưởng đâu vô… lúc tình là
[ nhưng trái banh chạy trật cha khung thành ]./.

nguyễn nam an

June 15, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

những người chết sau cùng trong cuộc chiến

Lời giới thiệu: Tác giả ghi lại những gì diễn ra trước mắt mình, ngay trước nhà mình, ngay trong khu phố mình sống, những giờ phút cuối cùng của miền Nam.

Ngày ấy, tác giả vừa tròn 15 tuổi.
Viết cho ngày 30 Tháng Tư năm ấy.
Viết cho những người lính cấp bậc nhỏ, nhưng hy sinh lớn.
Viết cho những người lính vô danh,
Vị quốc vong thân lúc thành mất nước tan.
Ai cũng sống cả một đời, nhưng chết chỉ một lần.
Các anh, những người lính nhỏ,
Các anh, những người lính vô danh, nhưng hy sinh vĩ đại!”.

Khuyết danh

Suốt 40 năm qua, tôi đã đọc, đã nghe và cũng đã xem nhiều về những hy sinh của các tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa khi nước mất nhà tan vào tay cộng sản trong ngày 30 Tháng Tư đau buồn của năm 1975. Lúc ấy tôi được 15 tuổi, chưa trưởng thành, chưa đủ khôn và đủ hiểu biết chuyện đời, nhất là chuyện thời cuộc. Ở tuổi này, tuy chưa đủ lớn, ký ức mình cũng đủ “già dặn” để không quên điều xảy ra. Và trong ý nghĩ đó, có một câu chuyện cho đến giây phút này vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi.

Mấy mươi năm qua, tôi cho đó là “chuyện nhỏ.” Sau này, tôi chợt nhận thức, rằng chuyện nhỏ này lại có ý nghĩa vô cùng to lớn mà hôm nay tôi muốn ghi lại và chia sẻ với những ai quý tự do, yêu độc lập và chuộng hòa bình.

Lúc ấy là 09 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975! (Tín Võ)

Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười, khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi…

Thời khắc ấy cách đây đúng 40 năm, trong cảnh hỗn mang của ngày tàn cuộc chiến, trong xóm tôi ở Ngã Năm Bình Hòa-Gia Ðịnh, bỗng xuất hiện bốn năm người lính Nhảy Dù. Họ chạy lúp xúp men theo vách tường nhà Dì Sáu của tôi rồi dừng lại trước nhà tôi. Tất cả đều còn rất trẻ và người họ mang đầy súng ống đạn dược. Áo quần họ bám đầy bụi đỏ. Chỉ cần nhìn thoáng qua, ai cũng biết những người lính này mấy ngày trước đây đã từng xông pha trận mạc. Họ đứng trước khoảng đất trống, ngó dáo dác một đỗi, thì người lính có mang một bông mai trên cổ áo nói, như ra lệnh:

– Anh em đào ở đây đi.

– Tuân lệnh thiếu úy!

Một người trong họ trả lời. Thế là các anh tháo gỡ trên vai xuống mấy cái xẻng cá nhân. Với thao tác nhanh lẹ, phút chốc họ đã biến chúng thành những cái cuốc và bắt đầu đào hố cá nhân.

Trong nhà, má tôi lo lắng ra mặt. Bà đang phân vân chẳng biết có nên di tản không và nếu đi thì chưa biết phải đi đâu. Bất ngờ, bây giờ thấy lính tráng chuẩn bị hầm hố chiến đấu trước cửa nhà, bà thêm hoảng sợ.

Tuổi thiếu niên đang lớn, hiếu kỳ, tôi tò mò bước ra sân, tiến gần đến khoảng đất trống ngồi chồm hổm xem mấy người lính làm việc. Lâu lâu có tiếng đại bác vọng về, tiếng súng bắn lẻ tẻ vang lên đây đó làm cho bầu không khí chết chóc thêm ngột ngạt, hình ảnh chiến tranh thêm rõ nét.

Dân trong xóm tôi nhốn nháo chạy tới chạy lui, mặt mày ai nấy đều lấm la lấm lét khi đi ngang qua nơi mấy người lính đang làm việc. Bộ mặt của thành phố Sài Gòn lúc đó như người bệnh nặng sắp mất.

Ðộ chừng nửa tiếng sau, khi hố được đào khá sâu, một người lính đứng lên, mồ hôi nhễ nhại trên mặt. Anh đưa cánh tay lên cao, quẹt lấy mớ tóc bê bết trên trán để lộ một cái sẹo thật to nơi đuôi mắt phải, đoạn nhìn tôi:

– Em trai chạy vô nhà lấy cho anh xin miếng nước uống đi em.

Tôi đứng dậy co giò phóng vào nhà. Ít phút sau tôi mang ra cho các anh một ca nước đá bự, một cái ly và một ít kẹo đậu phộng với bánh in mà má tôi đưa thêm. Họ ăn, họ uống, họ nói cười vui vẻ, cơ hồ như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có người thiếu úy là không ăn uống gì cả.

Người thiếu úy này cũng còn trẻ và đẹp trai như Tây lai nhưng dáng dấp rất phong trần, uy dũng. Tôi đoán chừng tuổi đời anh chỉ khoảng 23, 24 gì thôi. Anh có vẻ như đang lo lắng trước tình hình chiến sự lan rộng nên nét mặt luôn phủ một lớp sương mờ căng thẳng.

Nắng lên khá cao…

Bỗng một tiếng nổ lớn từ đâu dội lại rung chuyển cả mặt đất. Tôi hoảng hốt. Mấy người lính ngưng đào, ngẩng đầu nhìn quanh. Viên thiếu úy ngó về cuối xóm một thoáng rồi nói với đồng đội:

– Anh em cứ tiếp tục đi, để tôi xuống dưới này xem sao.

Người thiếu úy xốc khẩu M-16 đang mang trên vai lên cao và bỏ đi trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bên trong, má tôi gọi tôi vào và không cho ra khỏi nhà, vì sợ đạn lạc. Xế trưa, lúc ông Dương Văn Minh ra lệnh cho binh sĩ buông vũ khí và đầu hàng vô điều kiện thì má tôi vội vã kêu tôi cầm cái radio-casette hiệu Sanyo ra cho những người lính bên ngoài nghe. Trong khi họ còn sững sờ thì viên thiếu úy từ dưới đang vội vã đi lên. Một anh lính trẻ giơ chiếc radio về viên sĩ quan, hớt hải, nghẹn ngào. Anh nói như sắp khóc:

– Thiếu úy, thiếu úy, ông Minh đầu hàng rồi. Mình thua rồi!

Viên sĩ quan khựng lại một lúc rồi chăm chú nhìn vào cái radio trong im lặng não nề. Tiếng ông Minh kêu gọi đầu hàng cứ được lập đi lập lại hoài khiến người sĩ quan trẻ nổi cáu:

– ÐM sao chưa đánh đấm gì đã lo đầu hàng?

Người thiếu úy giận dữ quát tháo, gương mặt đan xen nỗi đau và buồn.

Sau một đỗi phân vân, cuối cùng thiếu úy hạ giọng:

– Thôi đi.

Thế là họ bỏ chiến hào đang đào dang dở và hấp tấp chạy trở ra đường.

Ðộ chừng một tiếng đồng hồ sau, người ta nghe nhiều tiếng súng AK-47 nổ giòn giã rồi tiếng M-16 bắn liên thanh đáp trả. Lẫn lộn trong đó thỉnh thoảng có cả tiếng súng M-79 đệm vào. Ðứng trong sân nhà nhìn ra, tôi thấy có vài cột khói đen bốc lên cao.

Từ bên ngoài, vài người trong xóm tôi tất tả chạy về. Gặp má tôi đang đứng lấp ló nơi cửa, họ báo:

– Ðang đánh nhau ở ngoài Ngã Năm dữ lắm cô Ba.

Ngã Năm Bình Hòa là giao điểm của năm con đường từ năm hướng khác nhau. Năm Mậu Thân 1968, nhiều trận đánh đã diễn ra ở đây khi Lực Lựợng Bảo Vệ Biệt Khu Thủ Ðô của quân đội VNCH ngăn chặn các mũi tiến công của cộng quân từ bên ngoài đổ về qua mấy cửa ngõ như Gò Vấp, Cầu Bình Lợi, Lò Vôi hay Ðồng Ông Cộ… nên nó trở thành một trọng điểm chiến lược vì là một trong những lộ chính tiến vô thủ đô Sài Gòn.

Chiều cùng ngày, khi lịch sử đã an bài, dân chúng bắt đầu túa ra đường phố. Lớp thì đón quân “Giải Phóng,” lớp khác lại mừng đất nước “Ðộc Lập,” trong khi tôi thì tò mò theo người cậu họ ra xem tình hình ngoài ngõ. Nghe thiên hạ bàn tán xôn xao có lính chết ở chỗ Ngã Năm Bình Hòa, cậu cháu tôi lần bước tới quan sát. Một đám đông đang vây quanh trước Nhà Thuốc Tây Tiến Thành, là nhà thuốc của má thằng bạn tôi. Cố gắng chui vào đám người hiếu kỳ ấy và luồn lách một tí, tôi tới được bên trong. Giữa vòng người nọ là xác một người lính nhảy dù nằm chết cứng. Ngực thủng một lỗ lớn, chiến bào loang đầy máu và đã chuyển sang nâu sậm nhưng đôi mắt anh vẫn mở trừng trừng. Nhìn kỹ, tôi chợt giật mình: người đó chính là viên thiếu úy ban sáng!

Ðang còn ngỡ ngàng, tôi bỗng thấy có một thanh niên vẹt đám đông bước lại gần xác người thiếu úy. Anh mặc một chiếc quần tây đen ngắn củn và áo thì rộng lùng thùng như đồ của ai cho chớ không phải của anh vậy.

Anh khom người xuống, giơ tay vuốt nhẹ nhàng lấy khuôn mặt lạnh vô hồn kia. Ðôi mắt từ từ nhắm lại và nơi khóe miệng một dòng máu nhỏ rỉ ra bên mép. Dường như chàng thanh niên lâm râm khấn vái điều gì đó nho nhỏ, đoạn anh đứng lên, bước ra với đôi mắt đẫm lệ. Tôi nhận ra ngay anh chính là người lính xin nước tôi lúc sáng, nhờ vết sẹo to nơi đuôi mắt.

Thiên hạ bàn tán sôi nổi khi dòng máu tươi nơi khóe miệng của thi hài đã lâu kia rỉ ra. Người miền Nam vốn duy tâm, thiên hạ tin rằng đấy là một điều linh thiêng vì vị sĩ quan này có lẽ còn có chuyện chi oan ức.

Ðột nhiên, chị Bảy bán tạp hóa sau lưng tôi lên tiếng kể lể với những người xung quanh:

– Ông thiếu úy này và mấy người lính của ông ta nấp ở vách tường bên kia kìa. Ðứng trông cửa sổ nhà nhìn qua, tui thấy mấy ổng bắn xuống phía mấy ông “Việt Cộng” ở dưới Ðồng Ông Cộ quá trời. Cuối cùng chắc thấy không xong, ổng biểu mấy người lính của ổng chạy đi còn ổng thì vẫn ở lại. Rồi hình như ổng bị thương sao đó nên bò sang nấp vô Cổng Ðình Thần Bình Hòa này nè. Hai bên còn bắn nhau một lúc lâu nữa và khi không còn nghe tiếng súng thì tui dòm ra thấy ổng lết tới đây rồi chết luôn.

– Hết chiến tranh rồi mà chết, tội nghiệp quá! Không biết có gia đình vợ con gì không? Thân nhân mà hay được chắc là buồn lắm.

Ông già bên cạnh chị Bảy nói theo làm mọi người mủi lòng trước sự hy sinh oai hùng của viên thiếu úy. Chợt một bà cụ cầm tấm chăn, không biết từ đâu, tách đám đông bước vô phủ trùm lên xác người thiếu úy và mếu máo:

– Dù con không có họ hàng gì với bà nhưng bà thấy con chết thảm bà thương quá. Tội nghiệp, con cái nhà ai vậy không biết nữa. Thôi con chết rồi, con hãy thanh thản ra đi và nếu hồn con có thiêng thì phù hộ cho bà con nơi đây được nhiều an lành nha con!

Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi. Ngẩng mặt lên bắt gặp tôi đang nhìn anh trân trối, anh vụt bỏ đi. Ngó cho đến khi bóng dáng xiêu vẹo của anh khuất nơi cuối chợ, tôi thấy lòng nao nao buồn. Cảm khái trước một nỗi niềm mất mát bao la của tình đồng đội thiêng liêng cao quý lẫn tiếc nuối cuộc đời binh nghiệp nửa đường gẫy đổ, tâm hồn tôi tràn ngập cả một sự chua chát to lớn.

Nhưng tôi đâu biết rằng, đó chỉ là khởi điểm của một trang sử đau thương cho dân tộc, cho hàng vạn sinh linh sau này.

Triều Phong
Charleston, South Carolina

June 12, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

vết thẹo hôm qua

vết thẹo hôm qua

bây giờ vết thẹo hôm qua
da đã kéo lại nhòa nhòa vết thương
vết thương ngày té xuống đường
tưởng chết mà sống thành ương ương hoài
ương ương mà cứ muốn đòi
trèo cao lại té hoài hoài vết thương ./.

nguyễn nam an

June 12, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

ta hỏi lòng ta khi rời đất nước

ta hỏi lòng ta khi rời đất nước

ta hỏi lòng ta khi rời đất nước
về đâu phận này lính tráng mồ côi
ngày sau trước tàn cuộc rồi bối rối
mẹ cha đâu và cật ruột rồi đâu

ta hỏi lòng ta hỏi sau hỏi trước
hỏi lạ hẩm đời hỏi chới với lui
căn nhà cũ mẹ ngồi trông không tới
em đợi anh nơi xa lạ tiếng người

ta hỏi lòng ta chiều ba mươi trông bến nước
Gò Công, về đâu gửi phận thuyền nan
M16 và vài trăm viên đạn
cổ thẻ bài nặng trăm nỗi hoang man

ta hỏi lòng ta ôi sao ta biết
một ngày tàn cuộc, ngày bỏ nước đi ./.

nguyễn nam an

June 3, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

thầy Ưng Đồng Phan Chu Trinh Đà Nẵng

thầy Ưng Đồng Phan Chu Trinh Đà Nẵng

thầy dạy bảo đó là biển Đông
Đông Hải! nằm lòng từ thôi học
hai mươi năm chiến tranh đất nước bao lần tang tóc
chúng cướp miền Nam, dâng đảo, biển mất tên!
nhưng biển gầm lên từ những bước chân rền
của dân khi cá đàn đàn phơi chết

thầy dạy bảo họa bắc phương đâu phải chỉ một lần rồi hết
xâm lăng dần dưới danh nghĩa mượn thuê
một trăm năm! làm sao đuổi chúng về
khi rể mọc lún sâu vào bắc thuộc
ngày một ngày hai dần dần mất nước
chúng dùng bù nhìn thao túng giang sơn

thầy dạy bảo giờ nhớ để buồn hơn… ./.

nguyễn nam an

June 3, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

giả thử

giả thử

nếu mà em giận anh
bắn bằng [em mười sáu] M 16
đừng nã bằng AK
tốt hơn đừng gì cả

không đứa nào xuống đường
không đứa nào ngủ ghế
không đứa nào ngu ghê
hòa bình và cứ thế

thì thôi đừng giận anh ./.

nguyễn nam an

June 3, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment

trường gọi Nguyễn Hiền

trường gọi Nguyễn Hiền

đó ngôi trường đã mất tên
như đường phía trước thuở hồn nhiên em
trở về lạ hết Nguyễn Hiền
lạ đất nước lạ niềm riêng bỗng òa

đó Nguyễn Hiền, đó chân xa
mất theo vận nước thuở nhà tan hoang ./.

nguyễn nam an

May 20, 2019 Posted by | * Uncategorized | Leave a comment